Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIẢM NGHÈO 1. Người dân tộc thiểu số: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu 1. Khái niệm người dân tộc thiểu số Theo nghĩa hẹp, khái niệm “dân tộc” được hiểu là cộng đồng tộc người có mối quan hệ chặt chẽ, bền vững; có chung nguồn gốc lịch sử, sinh hoạt kinh tế và đời sống văn hóa; có ngôn ngữ riêng và có những nét đặc thù về văn hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc. Theo nghĩa rộng, “dân tộc” được hiểu là một quốc gia, rõ hơn là để chỉ một cộng đồng chính trị, xã hội rộng lớn, bao gồm nhiều tộc người, sinh sống ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa số làm ngôn ngữ quốc gia; có lãnh thổ quốc gia, có chung vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế; có nền văn hóa vừa thống nhất, vừa đa dạng của quốc gia - dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất (54 dân tộc). Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số, còn lại là dân tộc ít người phân bố rải rác trên địa bàn cả nước. Tính cố kết dân tộc, hòa hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước. Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu xã hội nông thôn bền chặt nên dân tộc Việt Nam xuất hiện rấ sớm, gắn liền với cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh chống thiên tai.
Vì vậy đoàn kết là xu hướng khách quan trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch sử, có chung tương lại, tiền đồ. 9 Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày càng gia tăng. Các dân tộc không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng. Và sự thống nhất giữa các dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.
Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc còn chênh lệch, khác biệt. Đây là một đặc trưng cần hết sức quan tâm nhằm thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước ta. Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, giao lưu quốc tế- đó là vùng biên giới, vùng núi cao, hải đảo. Cùng với nền văn hóa cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc VN có đời sồng văn hóa mang bản sắc riêng, góp phần làm phong phú thêm nên văn hóa của cộng đồng.
Các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta: Quan điểm chung: - Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết có tầm quan trọng đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc. Trong mỗi kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong văn kiện Đại hôi đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta nêu rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt các chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp 10 nhau cùng phát triển … thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, kiên quyết chống kỳ thị và chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc.
Những chính sách cụ thể: Phát triển kinh tế hàng hóa ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, đảm bảo cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc, từng bước nâng cao dân trí đồng bào dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số vùng cao, hải đảo. Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm các hành vi miệt thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là động lực chủ yếu, là sức mạnh vĩ đại quyết định sự thành công của cách mạng”, Người khẳng định : “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công” Tăng cường, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ ít người để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết, hợp tác cho cán bộ dân tộc.
Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính toàn diện, tổng hợp tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính công bằng và tiến bộ, đồng thời mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót một dân tộc nào, nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc. Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước. Đặc điểm của người dân tộc thiểu số Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng là dân tộc - quốc gia, là một cộng đồng chính trị, xã hội bao gồm tất cả 54 dân tộc, từ ít người 11 đến đông người, từ thiểu số đến đa số; mỗi dân tộc mang một sắc thái văn hóa riêng và cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất.
Trong đó, các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu vùng miền núi (chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của cả nước), địa bàn có vị trí quan trọng, chiến lược về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái của đất nước. Đặc điểm của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam: Một là, mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh trình độ phát triển kinh tế, xã hội chưa cao, hầu hết các dân tộc thiểu số còn lưu giữ và chịu sự chi phối khá rõ nét của nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian. Trong đó nhiều tín ngưỡng có tác dụng tích cực, thể hiện ước nguyện tốt đẹp cho cuộc sống con người, củng cố tình đoàn kết, đồng tâm hiệp lực giữa các thành viên trong cộng đồng.
Nhưng một số tín ngưỡng dân gian cũng là môi trường cho mê tín, dị đoan và hủ tục lạc hậu tồn tại và phát triển. Đặc biệt, trong những năm qua, đạo Công giáo, Tin lành được truyền bá, phát triển mạnh, số tín đồ người dân tộc thiểu số tăng nhanh chóng, bất thường, tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần của một bộ phận cộng đồng. Hai là, các dân tộc thiểu số tại Việt Nam có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, với sự chênh lệch khá lớn về điều kiện sống, mức sống giữa các dân tộc và giữa các vùng địa lý khác nhau. Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn diễn biến phức tạp.
Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn. Chính vì đặc điểm trình độ phát triển kinh tế, xã hội không đồng đều, điều kiện sống và mức sống còn chênh lệch giữa các dân tộc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, thực hiện đường lối phát triển bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc. Ba là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú vừa phân tán, vừa xen kẽ nhau, không tách riêng theo vùng lãnh thổ hay cư trú duy nhất trên một địa bàn. 12 Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ở Việt Nam là biểu hiện của sự đoàn kết, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, thúc đẩy sự hòa hợp, tin cậy, gắn bó và giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường hợp tác và xích lại gần nhau hơn trong lao động sáng tạo, đời sống vật chất, tinh thần, sinh hoạt văn hóa, hôn nhân gia đình, đi tới xóa bỏ cách biệt giữa các dân tộc và các vùng dân cư.
Đây là cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc, phòng ngừa xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp lợi ích, xung đột văn hóa, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước. Bốn là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú tập trung ở vùng miền núi và biên giới - có vị trí quan trọng chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái của đất nước. Từ xa xưa đến nay, các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống luôn là căn cứ địa vững chắc của các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và là địa bàn quyết định đánh bại kẻ thù xâm lược.