Chương I là: "Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hay trình độ đào tạo”. 18 Chương trình dạy học, dù ở cấp độ chương trình ngành học hay môn học, chương trình khung hay chương trình chi tiết, chỉ có giá trị pháp lí khi được các cấp quản lí nhà nước về giáo dục có thẩm quyền phê duyệt. Liên quan đến chương trình đào tạo có các khái niệm thiết kế chương trình (curriculum design) và phát triển chương trình (curriculum development).130] Theo Luật giáo dục đại học, Luật số 8/2012 - QH13 mới đây đã quy định rất cụ thể việc xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, giao trách nhiệm và quyền hạn cho “Hiệu trưởng cơ sở giáo dục ĐH quyết định số học phần và khối lượng tín chỉ tích lũy cho từng chương trình và trình độ đào tạo”. Theo Ts Yvonne Osborne thuộc Dự án QUT và Tổ chức Atlantic Philanthropies về xây dựng năng lực giáo dục Điều dưỡng Tại Việt Nam tháng 10 năm 2010 thì: Chương trình đào tạo là một trình tự dưới dạng văn bản của các kinh nghiệm học tập được tạo ra với mục đích phát triển kiến thức cho các học viên.Việc thiết kế các chương trình giảng dạy là hướng trực tiếp đến mục tiêu, qua đó, kinh nghiệm học tập có thể được hướng dẫn và kết quả học tập theo mong đợi được đưa ra nhằm đảm bảo kiến thức của học viên được phát triển phù hợp với khóa học cụ thể [59,tr.2]; Đặc điểm tâm sinh lý, tư duy, khả năng tiếp thu sẽ khác nhau đối với những người khác nhau, nên chương trình giảng dạy thích hợp nhất là theo quan điểm lấy người học làm trung tâm.
Chương trình đào tạo phải được dựa trên một tập hợp các bằng chứng, giá trị và niềm tin để xác định những vấn đề mà học viên cần phải học; Phải xây dựng những quy trình quản lý giảng dạy và học tập. Chương trình giảng dạy được thiết lập bởi các cơ quan bên ngoài như Bộ Y tế, giới nghề nghiệp chuyên môn hoặc qua thảo luận nội bộ chẳng hạn như ở các trường đại học. Chương trình đào tạo phản ánh khung năng lực khi sinh viên tốt nghiệp trường đại học hoặc năng lực nghề nghiệp được xã hội và đơn vị sử dụng chấp nhận. Một số yếu tố quan trọng của CT đào tạo: 19 • Khung khái niệm • Nội dung • Chiến lược dạy và học • Kết quả mong đợi • Quá trình thẩm định • Các quy trình đánh giá.
Quá trình xác định các yếu tố trên thành mô hình hợp lý gọi là thiết kế CTĐT. Về cấu trúc của một chương trình đào tạo, thì CTĐT là một hệ thống nhiều cấp độ. Bao gồm chương trình ĐT của một quốc gia, của một ngành học, bậc học, cấp học, lớp học, môn học, bài học…CT của một ngành học, bậc học, thì luôn có chương trình khung và chương trình của từng môn học. Như vậy, Chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể quá trình giảng dạy một ngành học hay một khoá đào tạo chi tiết, là căn cứ để xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ, xây dựng giáo trình,chuẩn bị tài liệu,lập dự trù kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất,.Trong đó, xác định các thành tố như: mục tiêu, nội dung, cấu trúc, thời gian đào tạo, trình tự cách thức tổ chức thực hiện, cách đánh giá kết quả đào tạo và phê duyệt văn bằng tốt nghiệp.
Chương trình đào tạo CNĐD được căn cứ chương trình khung Bộ GD – ĐT và Bộ Y tế phối hợp đã duyệt chương trình khối KH sức khoẻ; Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức hệ thống quản lý khoa, phòng, phát triển chương trình chi tiết và tổ chức thực hiện CT mà hiệu trưởng đã phê duyệt, nhằm đào tạo đạt mục tiêu, sinh viên CNĐD đạt chuẩn đầu ra.2 Khái niệm phát triển chương trình đào tạo Theo PGS Trần Kiểm, trường đại học sư phạm Hà Nội thì “Phát triển CT được hiểu là một quá trình hay hoạt động tập thể có kế hoạch nhằm tạo ra những thay đổi có lợi về CT đào tạo. Quá trình này phụ thuộc vào quan điểm của 3 chủ thể (theo quan niệm của Boyd Bode): Các chuyên gia, người thực hiện và người học. Đây là quan niệm mới so với quan niệm thông thường ở nước ta với ý nghĩ cho rằng phát triển CT là công việc của chuyên gia, của giáo viên và không hề nghĩ đến vai trò của 20 người học. Đây cũng chính là vấn đề đặt ra cho các nhà lãnh đạo cơ sở đào tạo làm thế nào để huy động được cả 3 chủ thể trên trong việc phát triển chương trình.
Tuy nhiên, theo Ornstein và Hunkins (1993) và Senge, Dutton, Kleiner (2000), tham gia phát triển chương trình đòi hỏi các thành viên có các phẩm chất như: Trình độ hiểu biết về chuyên ngành để có thể xác định mức độ vừa đủ của môn học trong CT; có trình độ sư phạm, hiểu biết người học, môi trường học và quá trình dạy học; có kỹ năng tìm kiếm, nắm bắt nhu cầu, kết hợp các kinh nghiệm học tập một cách hiệu quả, khả năng xác định và đánh giá giá trị của những hoạt động đang diễn ra cũng như tác động của toàn bộ CT; có kỹ năng tổ chức; có khả năng viết văn bản rõ ràng và thuyết phục”. [26, tr 3] Phát triển Chương trình đào tạo,là xác định các vấn đề mà chương trình hiện thời còn thiếu hụt, để bổ sung – thay đổi – điều chỉnh hoặc thêm môn học mới vào.Từ đó, tổ chức các hoạt động quản lý dạy và học, nhằm đạt mục tiêu mong muốn của hệ thống GD – ĐT. Những tiến bộ về tri thức và công nghệ cũng là những yếu tố làm cho việc đổi mới chương trình đào tạo trở nên cần thiết, nhằm theo kịp với nhu cầu phát triển của xã hội. Chương trình đào tạo phải bám sát thực tiễn để sau đào tạo SV làm được việc chuyên nghiệp, đạt chuẩn mực và chất lượng.
Phát triển chương trình đào tạo là một trong những công đoạn quan trọng nhất, khó khăn nhất trong quy trình đào tạo. “Phát triển chương trình đào tạo là một quá trình thiết kế, điều chỉnh sửa đổi dựa trên việc đánh giá thường xuyên liên tục”. Phát triển chương trình đào tạo được xem như một quá trình hòa quyện vào trong quá trình đào tạo, bao gồm 7 bước như dưới đây: 21 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ GIAI ĐOẠN THIẾT KẾ VÀ ĐÁNH GIÁ 1.Phân tích tình hình 5. Thiết kế chương trình 2.
Phân tích nghề 4.Xác định chuẩn bậc 6.Thực hiện nghề /cấp trình độ nghề 3.Phân tích công việc 7. Đánh giá Trong qui trình trên gồm hai giai đoạn: chuẩn bị và phát triển chương trình. Giai đoạn chuẩn bị thường dừng ở các công đoạn: phân tích tình hình, phân tích nghề, phân tích công việc, xác định chuẩn bậc nghề/cấp trình độ. Phân đoạn thiết kế, căn cứ từ chuẩn bậc nghề/cấp trình độ, thiết kế chương trình,tổ chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chương trình.
Hiện nay, Đại học Y Dược TPHCM đã có chương trình, nên phát triển chương trình thích ứng với yêu cầu chất lượng Cử nhân Điều dưỡng ngày càng cao. Mặt khác, sự phát triển nhanh khoa học công nghệ và thông tin truyền thông,đòi hỏi phải thường xuyên có sự điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp thực tế. Phát triển CT ĐT mang nghĩa thay đổi tích cực. CTĐT mới cần phải thõa mãn: 1) Thay đổi đáp ứng yêu cầu nghề ĐD, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ.
2) Thay đổi phải có kế hoạch là các bước theo trình tự và hệ thống để dẫn tới trạng thái mục tiêu. 3) Thay đổi phải mang lại sự tiến bộ. “Chương trình là sản phẩm trí tuệ của tập thể, thuộc nhiều cấp độ, thuộc nhiều cương vị xã hội. CT cấp độ lớp học tạo cho người dạy, người học phát huy sáng tạo, đây là giai đoạn CT đào tạo trong kế hoạch, chuyển thành CT được thực hiện thực tế và được kiểm nghiệm” [26,tr 4] 22 Trên thực tế, phát triển chương trình đào tạo thường bao gồm 4 thành phố cơ bản sau: (1)Xác định vấn đề cần học, nội dung và cách thức GD – ĐT để đáp ứng yêu cầu học tập; (2) Lập kế hoạch ĐT; (3) Thực hiện ĐT; (4) Đánh giá quá trình ĐT, điều chỉnh kịp thời những sai sót của CTĐT.
Như vậy, Phát triển chương trình đào tạo(Curriculum development)là một quá trình năng động cao, có tính liên tục, không có kết quả hoàn hảo, luôn được cặp nhật trong suốt quá trình thiết kế phát triển môn học hay khóa đào tạo phù hợp nhu cầu thực tiễn, bám sát những thay đổi công nghệ, những tiến bộ KHKT về chuyên môn và quản lý,để kịp thời điều chỉnh từng khâu của quá trình hoàn thiện chương trình đào tạo, nhằm không ngừng đáp ứng tốt hơn với yêu cầu ngày càng cao về chuẩn mực và chất lượng đào tạo của xã hội.3 Khái niệm phát triển chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng theo chuẩn năng lực Để làm việc hiệu quả, con người cần phải có một số phẩm chất tâm lý cần thiết, tổ hợp những phẩm chất này được gọi là năng lực.Tuỳ thuộc vào tính chất nghề, đòi hỏi ở cá nhân những thuộc tính tâm lý nghề nghiệp phù hợp với nghề. Như vậy: Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm lý, sinh lý của con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra. Ở mỗi nghề nghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu khác nhau, nhưng theo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3 thành tố sau: Thái độ đối với nghề nghiệp, Tri thức chuyên môn, Kỹ năng hành nghề. Mặt khác, “Năng lực là những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục".36] 23 Các cách hiểu trên, đều khẳng định: Nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm (know-how), chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).
Tất nhiên hành động thực hiện phải gắn với ý thức và thái độ. Một nghề gồm nhiều lĩnh vực, hay nhiệm vụ nghề nghiệp. Nội dung ĐT được xây dựng thành các mô đun ĐT tương ứng với các lĩnh vực, nhiệm vụ nghề. Trong từng mô đun ĐT gồm nhiều đơn nguyên học tập/bài học.
Mỗi đơn nguyên, bài học là một tình huống giải quyết một công việc hay một kỹ năng.