CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tín dụng ngân hàng a. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng NH là mối quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Trong quan hệ này, bên cho vay (NH) chỉ nhượng lại quyền sử dụng vốn cho bên đi vay (cá nhân, DN) trong một thời gian nhất định và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho bên cho vay vô điều kiện khi đến hạn đã thỏa thuận. Theo luật các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về sửa đổi bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại khoản 3, sửa đổi điều 20 có nêu: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nghiệp vụ tín dụng NH phải đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản: + Hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi. NHTM là loại hình DN đặc biệt mà hoạt động cơ bản thuộc về lĩnh vực tín dụng.
Khi là người đi vay, NH vận dụng các phương thức huy động vốn thích hợp trong khuôn khổ pháp luật để tạo lập nguồn vốn tín dụng và hoạt động này đòi hỏi NH phải đảm bảo khả năng lực chi trả khi có yêu cầu của KH theo đúng thời hạn, lãi suất phải thỏa thuận. Do đó NH phải tìm cách sử dụng nguồn vốn tín dụng sao cho có hiệu quả để vừa đảm bảo khả năng chi trả cả vốn lẫn lãi cho số tiền đã huy động vừa đảm bảo yêu cầu lợi nhuận để duy trì hoạt động của NH. Khi là người cho vay, NH phải có sự Luan van 10 chọn lọc để cung ứng vốn tín dụng một cách hợp lý, thỏa thuận thời gian cho vay phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người đi vay trả được nợ, đảm bảo thu hồi cả vốn lẫn lãi cho NH. Theo nguyên tắc này thì việc hoàn trả nợ NH phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn của người đi vay.
Trường hợp KH không trả được nợ thì tùy theo mức độ mà NH có thể giải quyết cho cơ cấu lại thời gian trả nợ (gia hạn nợ) khi xét thấy KH đủ điều kiện và có thiện chí trả nợ hoặc chuyển nợ quá hạn và tiến hành các biện pháp xử lý cần thiết để yêu cầu KH trả nợ kể cả biện pháp sau cùng là khởi kiện ra tòa án yêu cầu phát mãi tài sản đảm bảo nhằm thu hồi đầy đủ nợ gốc, lãi vay cho NH. Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng đảo nợ (vay nợ mới, trả nợ cũ) ngày càng phổ biến ở các cá nhân, DN làm gia tăng rủi ro tín dụng. Do đó, khi cho vay NH cần phải tính toán kỳ hạn, thời hạn nợ hợp lý để mục tiêu và hiệu quả vốn vay được hoàn thành tốt, đáp ứng lợi ích cả hai bên đi vay và cho vay. + Sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích cam kết và có hiệu quả.
Khi giải quyết đề nghị vay vốn của KH, NH phải nắm rõ các thông tin về KH của mình. NH có thể yêu cầu KH cung cấp thông tin về tình hình tài chính, mục đích vay vốn, phương án kinh doanh, sử dụng vốn và kế hoạch trả nợ. Trên cơ sở đó NH tiến hành phân tích, thẩm định để có quyết định cho vay hay không cho vay. Công việc này của NH phải thực hiện một cách thận trọng để tránh những quyết định sai lầm, cấp tín dụng không hiệu quả dẫn đến rủi ro mất vốn.
Trong quá trình cho vay, NH phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn của KH nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay đúng mục đích. Trường hợp phát hiện KH sử dụng vốn sai mục đích, NH có thể ra quyết định không tiếp tục giải ngân, thu hồi nợ trước hạn hoặc khởi kiện ra tòa do KH vi Luan van 11 phạm thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng để yêu cầu áp dụng các biện pháp nhằm thu hồi nợ cho NH trong khuôn khổ pháp luật. + Tiền vay phải được đảm bảo bằng tài sản (trừ trường hợp cho vay tín chấp không có TSĐB). Đây là nguyên tắc cơ bản để giảm thiểu những rủi ro đảm bảo vốn cho người gửi và đáp ứng mục tiêu sinh lời của NH.
Tuy nhiên do đặc điểm của các DN mà NH thường yêu cầu thêm một nguyên tắc vay vốn khác đó là vật đảm bảo hoặc bảo lãnh của cá nhân, tổ chức có khả năng chi trả. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng - TDNH thực hiện huy động vốn và cho vay vốn chủ yếu dưới hình thức tiền tệ, nguồn vốn mà các NH sử dụng cho vay hình thành từ những khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội. - Trong quan hệ TDNH, NH đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay. - TDNH là hình thức tín dụng gián tiếp.
Vì vậy, TDNH thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. - TDNH vừa mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn với hoạt động của các DN, vừa là tín dụng tiêu dùng. Vì vậy, quá trình vận động và phát triển của TDNH không hoàn toàn phù hợp với quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa.Vai trò của tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh…Các DN không thể tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ, sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong các lĩnh vực cạnh tranh nếu không được cung ứng vốn và để có thể đứng vững trên thương trường thì cần phải có vốn đầu tư và TDNH là một trong những nguồn Luan van 12 vốn tối ưu để DN có thể khai thác. Các DN phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển.
Như vậy, TDNH đóng vai trò hết sức quan trọng, là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường. Vai trò của TDNH được thể hiện ở khía cạnh sau: - TDNH góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả, tập trung vốn cho sản xuất. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN thường xuyên gặp phải k hó khăn về vốn mà không thể tự mình đáp ứng được. Chẳng hạn như khi quá t rình lưu thông hàng hóa sản xuất diễn ra chậm (vốn luân chuyển chậm) thì cá c nhà sản xuất dễ lâm vào tình trạng thiếu vốn lưu động, do đó khó có thể đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu đảm bảo cho sản xuất hoặc khi DN cần mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng đầu tư mà thực trạng tài chính DN không thể đáp ứ ng, cần phải có nguồn vốn khác bên ngoài tài trợ.
Trong những tình huống nh ư thế, với chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của mình, NHTM đã huy động các nguồn vốn DN tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách…và sử dụng để đầu tư cho các DN đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát, NHTM sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả. - TDNH làm tăng hiệu quả kinh tế.
Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn vốn để vay là từ NH, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thỏa mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ NH thì các DN cần phải nâng cao uy tín của mình đối với Luan van 13 NH, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình, DN phải chọn dự án có mức sinh lợi cao nhất.
Để các dự án khả thi, DN phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án kinh doanh. Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của NH là khâu giám sát sử dụng vốn vay. Với việc giám sát này của NH, bắt buộc DN phải sử dụng vốn vay đúng mục đích phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu của kinh tế.
- TDNH góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ. Một trong những đặc điểm quan trọng của NHTM là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng NHNN có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông và thực hiện quản lý vĩ mô thông qua công cụ lãi suất, quy định về quản lý ngoại tệ, áp dụng các chính sách tín dụng tác động cả về quy mô, cơ cấu tín dụng một cách hợp lý nhằm góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả.
- TDNH góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Một trong những đặc điểm quan trọng của NHTM là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi Nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì NHNN có thể tăng hạn mức tín dụng của các NHTM đối với nền kinh tế và ngược lại.