phần mở đầu, học viên đã trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu luận văn bao gồm: Phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Các số liệu thứ cấp và sơ cấp được sử dụng trong nghiên cứu, trong đó số liệu thứ cấp được thu thập trong 3 năm gần đây từ 2017-2019 từ các văn bản công bố về tình hình phát triển chăn nuôi heo theo tiêu chuẩn VietGAHP của Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh Tây Ninh; Sở NN&PTNT tỉnh Tây Ninh; báo cáo khoa học; luận án tiến sĩ; tạp chí khoa học; số liệu thống kê của Tổng cục và Chi cục Thống kê; báo cáo của UBND huyện Dương Minh Châu; số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát các chủ trang trại chăn nuôi heo thịt và cán bộ quản lý của Sở NN&PTNT tỉnh và huyện Dương Minh Châu. Tổng số lượng mẫu dự kiến điều tra là 150.
Những nội dung này sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về nội dung và quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu về các cơ sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 10 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI HEO THỊT THEO TIÊU CHUẨN VIETGAHP 1. Khái niệm chất lượng Chất lượng là một khái niệm quen thuộc với cuộc sống ngay từ thời cổ đại. Tuy nhiên, chất lượng cũng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi.
Tùy theo đối tượng sử dụng, “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau nên cách hiểu về chất lượng cũng đa dạng. Theo Bill Conway - Mỹ, “Chất lượng phụ thuộc vào cách thức quản lý đúng đắn” [17]. Edwards Deming - Mỹ, “Chất lượng là mức dự báo về độ đồng đều, độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường”[17]. Theo tiêu chuẩn Pháp NF X 50 – 109, “Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” [17].
Theo Oxford Pocket Dictionary, “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” [17]. Theo Kaoru Ishikawa, “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất” [17]. Theo Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (2017), “Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng” [21]. Theo ISO 9000: 2015, “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” [32].
Mặc dù, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng từ các chuyên gia, nhà quản lý, nhà sản xuất, người bán lẻ cho đến người tiêu dùng. Những năm gần đây, khái niệm chất lượng được tiếp tục mở rộng. Chất lượng còn là “lao động sạch” để tạo sản phẩm. Điều này đồng nghĩa với tính thân thiện với môi trường và tính đạo đức trong kinh doanh tồn tại từ khâu thiết kế đến tiêu dùng sản phẩm.
Khái niệm quản lý chất lượng Chất lượng không tự sinh ra và cũng không phải là một kết quả ngẫu nhiên. Đó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng.
Phải có hiểu biết và kinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng mới giải quyết tốt bài toán chất lượng. QTCL được áp dụng trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi qui mô. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức muốn sản xuất ra được những sản phẩm có chất lượng, giá thành hợp lý. QTCL là quản lý mặt chất của hệ thống; liên quan đến mọi bộ phận, mọi người và mọi công việc.
Các lĩnh vực này cần phải được phối hợp với nhau một cách đồng bộ trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức [17].2: Các chức năng của quản trị chất lượng [32] Theo ISO 9000:2015, QTCL là quản trị liên quan đến chất lượng. QTCL bao gồm thiết lập chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và các quá trình để đạt được mục tiêu chất lượng này thông qua hoạch định chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm soát chất lượng và cải tiến chất lượng: 12 o Hoạch định chất lượng là một phần của QTCL tập trung vào lập mục tiêu chất lượng, quy định các quá trình tác nghiệp cần thiết và các nguồn lực liên quan để đạt được các mục tiêu chất lượng. o Kiểm soát chất lượng là một phần của QTCL tập trung thực hiện các yêu cầu chất lượng. o Đảm bảo chất lượng là một phần của QTCL tập trung mang lại lòng tin về các yêu cầu chất lượng sẽ được thực hiện.
o Cải tiến chất lượng là một phần của QTCL tập trung nâng cao khả năng thực hiện các yêu cầu chất lượng. Khái niệm về các phương thức quản lý chất lượng trong nông nghiệp GlobalGAP được chuyển từ EurepGAP vào ngày 07 tháng 9 năm 2007. Tính từ ngày chuyển đổi này, GlobalGAP đã có 35 thành viên bán lẻ và dịch vụ thực phẩm gồm 34 thành viên ở Châu Âu và Nhật bản. GlobalGAP được xây dựng để áp dụng tự nguyện cho sản xuất nông nghiệp trên toàn cầu.
Tiêu chuẩn này bao hàm toàn bộ các quá trình sản xuất ra sản phẩm, từ đầu vào trang trại như thức ăn, giống và các hoạt động nuôi trồng cho đến khi thành phẩm và rời khỏi trang trại đến tay người tiêu dùng [49]. Đến nay, ASEAN và các nước thành viên đã ban hành các bộ tiêu chuẩn được xây dựng để áp dụng tự nguyện cho sản xuất nông nghiệp như: AseanGAP: Do Ban thư ký của ASEAN xây dựng với đại diện các nước thành viên và được đưa ra từ năm 2006. Đây là một bộ tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt trong cả quá trình sản xuất, thu hoạch và xử lý sau thu hoạch đối với rau quả tươi ở các nước trong khu vực ASEAN. Mục tiêu của AseanGAP là tăng cường hài hòa các chương trình GAP quốc gia của các nước thành viên ASEAN trong khu vực, đề cao sản phẩm rau quả an toàn cho người tiêu dùng, duy trì các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy thương mại rau quả trong khu vực và quốc tế [50].
MalaysiaGAP: Do Bộ Nông nghiệp trực tiếp điều hành đưa vào hệ thống chứng nhận trang trại chính thức của Malaysia, gọi là SALM vào năm 2002. Chúng bao gồm bộ phận chứng nhận rau quả tươi (SLAM), chứng nhận vật 13 nuôi (SALT), chứng nhận sản phẩm cá và thủy sản (SPLAM) và bộ phận chứng nhận sản phẩm hữu cơ (SOM). SALM là một chương trình chứng nhận các trang trại đã tuân thủ thực hành nông nghiệp tốt, hoạt động theo phương thức bền vững và thân thiện với môi trường cùng năng suất, chất lượng sản phẩm an toàn cho tiêu dùng [50]. ThaiGAP ( Q-GAP): Chính phủ Thái Lan đã xây dựng, giới thiệu chương trình chứng nhận chất lượng và an toàn thực phẩm “Q”.
Xây dựng logo “Q” cho tất cả nông sản (cây trồng,vật nuôi và thủy sản) [50]. Khái niệm về trang trại Theo điều 5 Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: (1) Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu: 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. (2) Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên; Thành phần tham gia sản xuất kinh doanh của các trang trại bao gồm: Các doanh nghiệp FDI, các công ty cổ phần, các hộ gia đình.
Cá nhân, hộ gia đình đạt tiêu chí xác định kinh tế trang trại theo quy định trên sẽ được UBND cấp huyện cấp Giấy chứng nhận kinh tế trang trại [6]. Lý thuyết ứng dụng về quản lý chất lượng trong chăn nuôi Phát triển chăn nuôi heo theo quy trình VietGAHP là phương thức phát triển chăn nuôi bền vững. Qua đó tạo ra sản phẩm thịt heo đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất, thu nhập cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Đây là hướng đi mới trong chăn nuôi vì khắc phục được những hạn chế, rủi ro của phương thức chăn nuôi cũ; đồng thời tiếp cận đồng bộ đến các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường [23].
14 VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam, do Bộ NN&PTNT ban hành đối với từng sản phẩm, nhóm sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi. VietGAP ra đời ngày 28 tháng 01 năm 2008. VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản xuất [49]. VietGAHP - Thực hành sản xuất chăn nuôi tốt là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất áp dụng trong chăn nuôi; nhằm đảm bảo loại động vật được nuôi dưỡng, để đạt được các yêu cầu về chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm [23].
Những lợi ích khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAHP trong chăn nuôi heo [48]: Tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng và có thể truy suất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm. Sản phẩm được công nhận theo tiêu chuẩn của VietGAHP được đánh giá cao, rất dễ dàng lưu thông trên thị trường Việt Nam. Tăng sự tin tưởng của khách hàng đối với thực phẩm an toàn; bảo vệ người tiêu dùng trước nguy cơ thực phẩm mất an toàn, ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe. Chất lượng và giá cả của sản phẩm ổn định.
Nâng cao thương hiệu của nhà sản xuất, chế biến, phân phối. Tạo lập một ngành chăn nuôi bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường và đảm bảo lợi ích xã hội.