Chương 1 Vài nét về làng nghề khảm trai chuyên mỹ 1. Vài nét về làng nghề Việt Nam và vùng Hà Tây cũ 1.1 Khái niệm làng nghề Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006 “Hướng dẫn thực hiê ̣n mô ̣t số nô ̣i dung của Nghi ̣đinh ̣ số 66/2006/N Đ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triể n ngành nghề n ông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” giải thích các khái niệm: a) Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. b) Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. c) Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.
Trên cơ sở đó, tiêu chí của làng nghề thủ công truyề n thống là : - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quyết định số 1492/1999/QĐ-UB của tỉnh Hà Tây (cũ) quy định làng nghề thủ công truyền thống phải đảm bảo các điều kiện sau: - Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và mọi quy định hợp pháp của chính quyền địa phương. - Số hộ hoặc lao động làm nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của từng làng. - Giá trị sản xuất và thu nhập từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phải chiếm tỷ trọng trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đồng thời các làng nghề thủ công truyền thống cũng có những biện pháp và ý thức nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định hiện hành. - Có ý thức tổ chức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương, gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội và làng văn hoá của địa phương. - Tên nghề của các làng thủ công truyền thống phải được gắn với tên làng. Trên cơ sở Thông tư 116 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , khi áp dụng vào thực tế địa phương , tỉnh Hà Tây (cũ) đã có mô ̣t số điề u chỉnh cho phù hơ ̣p với hiê ̣n tra ̣ng phát triể n các làng nghề ở đây.
Như vậy, so với các tiêu chí của Thông tư 116, các tiêu chuẩ n của tỉnh Hà Tây (cũ) nói chung là thống nhất. Tuy nhiên vẫn có sự khác biê ̣t khi ở đây quy đinh ̣ làng nghề thủ công truyền thống phải có từ 50% số hộ tham gia làm nghề (tiêu chí này của tỉnh Bắc Ninh là 35%). Theo quy đinh ̣ đó , đến năm 2001, Hà Tây (cũ) có 120 làng nghề đạt tiêu chuẩn và được cấp bằng công nhận của tỉnh. Thông tư 116 và Quyết định 1492/1999/QĐ-UB là những quy đinh ̣ quản lý của nhà nước về làng nghề thủ công truyền t hố ng.
Bên cạnh đó còn có quan điể m của các nhà nghiên cứu về làng nghề thủ công truyền thống là “làng tuy có trồng trọt, chăn nuôi, nhiều nghề phụ nhưng đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một lớp thợ thủ công ít nhiều chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm, phó cả,. với một cơ cấu tổ chức nào đó, chuyên tâm và có thể sống chủ yếu bằng nghề đó, và mặt hàng thủ công của họ đã là sản phẩm hàng hoá, có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng, đô thị, thủ đô hay cả nước ngoài” [86, tr. Trên thực tế, để ra đời, phát triển và trường tồn cùng lịch sử, các làng nghề thủ công truyền thống thường hội tụ đủ bốn tiêu chí sau đây: - Có vị trí thuận tiện về giao thông, nhất là đường sông, gần nguồn nguyên liệu. - Có nguồn lao động dồi dào, đội ngũ thợ thủ công lành nghề, trong đó nổi bật lên một số nghệ nhân có trình độ cao.
- Sản phẩm thủ công được sản xuất ra do nhu cầu của người tiêu dùng. - Có kỹ thuật sản xuất chung nhưng cách ứng dụng trong quá trình sản xuất mỗi nơi một khác; có kinh nghiệm sản xuất lâu đời. Với những quan điể m về làng nghề của các cấ p quản lý và dưới góc đô ̣ nghiên cứu, Chuyên Mỹ đã đáp ứng đầ y đủ các tiêu chí trên khi có tới trên 95% số hô ̣ tham gia sản xuấ t phi nông nghiê ̣p , tổ ng ngân sách từ nghề thủ công mang lại 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.6% cơ cấ u kinh tế của cả xã , nhiề u năm liên tu ̣c Chuyên Mỹ đươ ̣c nhâ ̣n bằ ng khen của huyê ̣n , tỉnh. Vài nét về làng nghề Việt Nam 1.
Số lượng Hiện nay trên toàn quốc theo số liệu điều tra năm 2004 của JICA và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có tất cả 2017 làng nghề có truyền thống trên 100 năm [13, tr. Theo số liệu của Trần Minh Yến, đến năm 2002 cả nước có trên 1450 làng nghề trong đó có khoảng 2/3 là làng nghề truyền thống, thu hút trên 10 triệu lao động, trong đó có hơn 5 triệu lao động có việc làm thường xuyên [88, tr. Phân bố Đồng bằng Bắc Bộ là “cái nôi” của rất nhiều nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Đó là vì vùng này có vị trí giao thông thuận lợi, có trình độ phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng cao hơn nhiều vùng khác, có các trung tâm buôn bán và thương mại xuất hiện sớm, có đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao.
đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các làng nghề. Các làng nghề nổi tiếng nhất ở đồng bằng Bắc Bộ đều có tuổi nghề rất cao, từ một vài trăm năm tới hàng nghìn năm như các làng nghề dệt tơ lụa ở Hà Đông (cũ) đã tồn tại suốt 1700 năm nay [87, tr. Không ít nghề đã theo chân những người thợ thủ công lành nghề lan truyền rộng rãi trên khắp đất nước, tới tận Sài Gòn - Gia Định và miền Tây Nam Bộ. Các kỹ thuật của nghề được họ truyền dạy, hoặc nâng cao tay nghề cho người dân ở những nơi họ đến sinh sống.
Chính vì vậy mà mật độ làng nghề ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ dày đặc hơn nhiều so với các tỉnh Trung Bộ và Nam Bộ. Số lượng làng nghề ở miền Bắc là 972 làng, chiếm 67% trên tổng số làng nghề nước ta. Mức độ phát triển Vùng đồng bằng Bắc Bộ là nơi có nhiều thuận lợi và thế mạnh để phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước. Từ sau đổi mới, nhất là từ năm 1990 trở lại đây, nhiều làng nghề truyền thống được phục hồi và phát triển.
Có những làng nghề truyền thống vẫn còn duy trì được cả nghề nghiệp lẫn mặt hàng truyền thống như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng nghề chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình), làng khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Nội). Theo nhu cầu của thị trường và giải quyết việc làm trong nông thôn, nhiều làng nghề mới xuất hiện. Các làng nghề mới này có thể làm nghề của làng nghề truyền thống hoặc làm nghề mới bằng các công nghệ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cổ truyền hay hiện đại như làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) trước đây sản xuất pháo nay chuyển hoàn toàn sang làm đồ gỗ mỹ nghệ. Tuy nhiên ở một số địa phương, vì nhiều lý do mà một số làng nghề trước đây phát triển mạnh nhưng nay lại rất chậm, phân tán hoặc bế tắc, như nghề gò đúc, cẩn đồng ở Huế.
Từ sau đổi mới đến nay, các làng nghề có sự chuyển động tích cực, tốc độ phát triển của các làng nghề được duy trì tương đối tốt, đồng thời quy mô sản xuất ngày càng mở rộng trên các phương diện: mặt bằng sản xuất, vốn, sử dụng lao động, đổi mới công nghệ. Vì vậy cần phát huy các thế mạnh của làng nghề truyền thống để có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn. Vài nét về làng nghề vùng Hà Tây (cũ) Hà Tây (cũ) là địa phương có số lượng làng nghề và thợ thủ công cao nhất cả nước. Năm 1975 cả tỉnh Hà Đông có 164 nghề thì riêng huyện Phú Xuyên chiếm tới 97 nghề.
Hiện tại Hà Tây (cũ) có 76% số làng có nghề, với nhiều nghề, loại hình sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đa dạng, phong phú. Toàn tỉnh Hà Tây (cũ) có 1.116 làng có nghề với 160 làng đạt tiêu chuẩn và được cấp bằng công nhận làng nghề [14, tr. Khác với các địa phương khác, các làng nghề của Hà Tây (cũ) được phân bổ đều ở các huyện, thị xã, tập trung nhiều nhất ở Phú Xuyên: 28 làng, chiếm 23,3% đã hình thành nên “cụm làng nghề lớn nhất tỉnh là khu vực huyện Phú Xuyên” [10, tr. Với khối lượng sản phẩm lớn, giá trị cao, phong phú về loại hình, mẫu mã, tinh tế về nghệ thuật của các làng nghề có thể coi Hà Tây là trung tâm các làng nghề cổ truyền của khu vực (theo số liệu điều tra của JICA).
Hầu hết các làng nghề ở đây đều có lịch sử lâu đời, nhiều thợ thủ công có tay nghề cao và nhiều nghệ nhân nổi tiếng. Từ thời Pháp thuộc Hà Tây đã có bảo tàng làng nghề. Quan điểm chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền Hà Tây (cũ) là đẩy mạnh phát triển thủ công nghiệp đã tạo nhiều điều kiện cho các làng nghề đi lên vững mạnh hơn. Kết luận 06 KL/TU ngày 12/10/2002 của Tỉnh uỷ Hà Tây (cũ) nhấn mạnh: “Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phải trở thành ngành kinh tế chủ lực để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh”.
Số lượng và loại nghề 160 làng nghề của cả tỉnh Hà Tây (cũ) được chia thành 4 nhóm ngành. Đó là ngành: Dệt may- Hàng tiêu dùng, ngành Chế biến lương thực - thực phẩm, Thủ công mỹ nghệ - Chế biến lâm sản và Cơ khí điện. Ngành Thủ công mỹ nghệ - Chế biến lâm sản có số lượng làng nhiều nhất: 71 làng nghề. Trong ngành Thủ công mỹ 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.