Chương 1. Cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch và tổng quan di sản văn hoá trên địa bàn thành phố Thanh Hoá Chương 2. Thực trạng phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch thành phố Thanh Hóa. Đề xuất giải pháp phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch ở thành phố Thanh Hóa.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ TỔNG QUAN DI SẢN VĂN HOÁ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THANH HOÁ 1. Cơ sở lý luận về phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm di sản văn hoá và bảo tồn di sản văn hoá *Di sản văn hoá Di sản văn hoá là sản phẩm do lao động sán tạo của con người làm ra.
Tuy nhiên không phải tất cả các sản phẩm vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra đều là di sản mà chỉ những những sản phẩm vật chất và tinh thần nào hàm chứa các giá trị lịch sử, văn hoá khoa học mới đủ điều kiện để trở thành di sản văn hoa (DSVH) và để trở thành DSVH các sản phẩm có giá trị đó phải trải qua quá trình thẩm định, chọn lọc thực tiễn, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh công bố ngày 4/4/1984 quy định: Di tích lịch sử văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hoá khác hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quán trình phát triển văn hoá xã hội [11] Luật di sản văn hoá năm 2001 và luật sửa đổi môi số điều bổ sung của di sản văn hoá năm 2009 quy định: Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta [22] [23]. 12 Điều 4 luật di sản chia di sản văn hoá thành di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể, là sản phẩm tinh thầm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [ 22] [23]. + Di sản văn hoá vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, báu vật quốc gia [23] +Di sản văn hoá phi vật thể: là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác gồm: tiếng nói, tác phẩm văn học nghệ thuật, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [23].
*Bảo tồn di sản văn hoá Văn hoá nhân loại muốn đa dạng và phát triển thì chỉ có phương pháp là tích cực là gìn giữ tài sản vốn có đó. Từ xa xưa đến nay, con người đã rút ra bài học quý giá là không thể thiếu di sản văn hoá trong quá trình phát triển tri thức. Lê Nin trong quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội cũng từng nhân mạnh tầm quan trọng của bảo tồn di sản sản văn hoá như sau:”Phải tiếp thu toàn bộ nền văn hoá do chế độ tư bản để lại và dùng những nền văn hoá để xây dựng chủ nghĩa xa hội. Phải tiếp thu toàn bộ nền khoa học kỹ thuật, tất cả những tri thức, nghệ thuật, không có cái đó chúng ta không thể xây dựng cuộc sống xã hội cộng sản” [24, tr 67].
Tác giả Quản Hoàng Linh cho rằng “Bảo tồn” mang ý nghĩa là hoạt động giữ gìn mọt cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại. Nói cách khác, là sự bảo quản kết cấu hoặc địa điểm hiện trạng và kìm hãm 13 sự xuống cấp của kết cấu đó [12, tr 3-7]. Như vậy bảo tồn là tất cả các nỗ lực hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của DSVH nhằm đảm bảo sự an toàn phát triển lâu dài cho DSVH và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác phục vụ cho tiến bộ của xã hội [12, tr 3-7] Di sản văn hoá do bàn tay con người tạo nên, nó đã khẳng định được vai trò và giá trị đối với xã hội, đồng nghĩa với việc trong hiện tại và tương lai con người phải có trách nhiệm bảo tồn sao cho nó trường tồn với thời gian. Hoạt động bảo tồn di sản văn hoá có chức năng giữ gìn, bắt đầu bằng công việc nghiên cứu phát hiện các giá trị di sản, lựa chọn gìn giữ những yếu tố góp phần minh chứng được đặc trưng của văn hoá dân tộc, của địa phương, của đất nước qua từng thời kỳ lịch sử.
Tiếp đến, các định các tiêu chuẩn nhằm gìn giữ các di sản, cuối cùng là kết hợp giữa nhà nước và nhân dân để bảo tồn văn hoá. Từ những giải thích trên, có thể đưa ra khái niệm: Bảo tồn di sản văn hoá là giữ lại nguyên dạng giá trị gốc của di sản, giữ lại những không gian vật chất và tinh thần do các thời kỳ trước tạo lập. Khái niệm phát huy giá trị di sản văn hoá Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt toả tác đụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp. Có thể nói, phát huy là việc sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả.
Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người biết đến hoặc đem về những lợi ích kinh tế [12, tr 3-7]. Giá trị của di sản trước hết được xác định bằng tài nguyên ban đầu và chất lượng bảo tồn tài nguyên, giá trị nguyên bản của tài nguyên là giá trị ban đầu khi nó được hình thành thành nên, Giá trị đó ngày càng sâu sắc và 14 độc đáo theo thời gian thì càng có giá trị cao trong xã hội. Về bản chất, mối di tích hay DSVH (lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán, nếp sống, y học, ẩm thực….) đều là những giá trị tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể chứa phía sau những hoạt động hay kết quả của các hoạt động của con người trong mọi quan hệ với tự nhiên, với xã hội. Những giá trị đó là cái “hồn”, một nơi thể hiện rõ nhất những thành tựu, trình độ, và bản sắc văn hoá của cộng đồng trong một không gian và thời gian nhất định tích luỹ trong quá khứ qua quá trình lịch sử.
Các giá trị văn hoá đó có thể trở thành bộ phận quan trọng hợp thành vốn DSVH quý báu của dân tộc. Vì vậy phát huy các giá trị DSVH phải biết kế thừa có chọn lọc phần “hồn”, sáng toạ thêm làm cho nó thâm sâu và lan toả vào đời sống cộng đồng, để cộng đồng nhận diện được giá trị, biết trân trọng những giá trị đó, tránh cái nhìn phiến diện, từ đó khơi lòng tự hào chung tay vào bảo tồn DSVH của địa phương, cuả nhân loại. Phát huy giá trị DSVH là để phát triển KTXH, nhưng phát huy là phải có tính kế thừa những tinh hoá của đời trước để lại, những giá trị đó chính là sự đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn chung phù hợp với thời đại mới làm giàu cho bản sắc văn hoá, góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân. Từ những giải thích trên, có thể đưa ra khái niệm về phát huy giá trị DSVH như sau: Phát huy giá trị DSVH là sự kế thừa có chọn lọc tinh hoa vật chất hoặc tinh thần của đời trước để lại làm cho các giá trị DSVH thêm thâm sâu và lan toả vào đời sống cộng đồng xã hội.
Đồng thời tạo cơ hội phát triển bền vững cho kinh tế xã hội ở giai đoạn tiếp theo. Khái niệm phát triển du lịch Nguyễn Phạm Hùng trong Văn hóa du lịch đã chỉ rõ: du lịch là hoạt động nhằm thỏa mãn trí tò mò của con người về những điều khác biệt, mới lạ, thể hiện cụ thể ở cái mới lạ và khác lạ của toàn bộ thế giới tự nhiên và của 15 toàn bộ những sáng tạo của con người, của văn hóa… Sự khác biệt, sự “trái dấu” của tự nhiên và văn hóa làm nên yếu tố “lạ” đó, cũng làm nên “sức hút” du lịch. Vai trò của yếu tố lạ làm nên du lịch [10]. Giáo trình tổng quan du lịch của tác giả Trần Thị Mai định nghĩa du lịch như sau: Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến không phải là nơi làm việc thường xuyên của họ[16] Luật du lịch năm 2017 do Quốc hội nước CHXHCN Việt nam ban hành, du lịch lại có khai niệm là: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giả trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích khác[25] Nhu cầu đặc trưng của du lịch là được đi đây đi đó để tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng nhằm thoả mãn nhu cầu này, phải đưa du khách đến với các tài nguyên du lịch hay các sự kiện hấp dẫn để tham quan tìm hiểu, khám phá, cảm nhậm các giá trị văn hoá, tự nhiên ở đó. Đây là một nhu cầu thiết yếu có kèm theo các dịch vụ như ăn, ngủ, hít thở không khí trong lành….