CHƯƠNG 1: DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ VẤN ĐỀ PHÁT HUY DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1. Khái niệm dân chủ cơ sở và phát huy dân chủ ở cơ sở 1. Khái niệm dân chủ cơ sở a, Về thuật ngữ dân chủ Thuật ngữ dân chủ (Désmocratie) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm hai từ “demos” có nghĩa là dân và “kratos” là quyền lực. “Désmocratie" chỉ một phương thức tổ chức quyền lực - chính quyền do công dân bầu ra và uỷ quyền thực hiện chức năng quản lý xã hội; đồng thời, họ cũng có quyền giám sát và bãi miễn nhân sự hoặc tổ chức ấy khi nó đi ngược lại lợi ích, quyền lực của mình.
Trong ngôn ngữ hiện đại, dân chủ được hiểu là một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước của một giai cấp, một chế độ xã hội; là nguyên tắc tổ chức, quản lý xã hội; là tính chất của mối quan hệ giữa các cộng đồng người; là một giá trị xã hội, một lý tưởng giải phóng con người hướng tới tự do và thực hiện quyền làm chủ xã hội, làm chủ nhà nước và làm chủ bản thân mình, dân chủ là nhu cầu khách quan của con người, là sản phẩm của nền văn minh, là tiêu chuẩn của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Theo Từ điển trực tuyến Wikipedia thì dân chủ được hiểu là “một thể chế mà quyền thay đổi luật pháp và cơ cấu chính quyền thuộc về người dân. Trong hệ thống này, luật pháp được đặt ra do người dân hay những dân biểu được người dân bầu ra và mọi hoạt động xã hội đều tuân theo luật pháp”[25] Từ điển Tiếng Việt: (Phương thức công tác) tôn trọng và thực hiện quyền mọi người tham gia bàn bạc và quyết định các công việc chung [54, tr. Từ điển triết học giản yếu: hình thức nhà nước trong đó chính quyền về mặt pháp lý thuộc về nhân dân (dân chủ=nhân dân làm chủ).
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia vào công việc của nhà nước, được sử 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng các quyền chính trị và các quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tư tưởng, chính kiến) [55, tr. Dân chủ là hiện tượng lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, với điều kiện chi phối, quan niệm về dân chủ của con người cũng biến đổi theo. Từ thực tiễn lịch sử ra đời và phát triển của dân chủ, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin với phương pháp tư duy biện chứng và lập trường duy vật đã nghiên cứu, khái quát vấn đề dân chủ một cách sâu sắc và toàn diện.Mác là người đầu tiên nêu lên quan niệm dân chủ với tầm khái quát về bản chất của khái niệm này.Mác nền dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý chí, tài năng và lợi ích, với tư cách là quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự phản ánh của những giá trị nhân văn, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân chống lại áp bức, bóc lột, bất công.
Chỉ có trong chế độ dân chủ thực sự con người mới vĩnh viễn được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công và thực sự được làm chủ, nhà nước không còn đối lập với nhân dân, mà nó sẽ tồn tại dưới hình thức đặc thù của nhân dân – nhà nước nhân dân. Có thể thấy, tư tưởng cốt lõi trong học thuyết của C.Mác, xét đến cùng, chính là giải phóng con người, giải phóng toàn xã hội, mà xây dựng dân chủ và thực hiện dân chủ chính là cơ sở, nó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thực hiện giải phóng con người. Không chỉ trong lý luận, mà trong mọi hoạt động thực tiễn của mình, C.Ăngghen cũng đã kiên quyết đấu tranh ủng hộ các lực lượng dân chủ, cho bình đẳng xã hội và quyền làm chủ của nhân dân lao động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên về cơ bản những hoạt động của C.Ăngghen diễn ra trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh, chế độ XHCN chưa thực hiện, nên vấn đề thực hiện dân chủ mới là những tư tưởng cơ bản, mang tính chất đặt nền móng, định hướng.
Đến giai đoạn V.Lênin, với thực tiễn cách mạng thế giới và đặc biệt là thực tiễn cách mạng nước Nga, giúp cho Lênin có cơ sở 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầy đủ để nhận thức và giải quyết vấn đề dân chủ cũng như thực hiện dân chủ trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, trong điều kiện giai cấp vô sản đã nắm được chính quyền, thiết lập được nhà nước chuyên chính vô sản của mình. Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai cấp thống trị khác nhau trong xã hội đã nhận thức, hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình.Lênin tổng kết “Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của Nhà nước. Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta”. Đặc trưng cơ bản của quá trình chuyển đổi quyền lực từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ là quyền lực của nhân dân được thể hiện trong các tổ chức tự quản theo tập quán, truyền thống (của xã hội cộng sản nguyên thuỷ) biến thành quyền lực của giai cấp thống trị (trong xã hội chiếm hữu nô lệ) được thể chế hoá bằng chế độ nhà nước với sự cưỡng bức là chủ yếu.
Lần đầu tiên trong lịch sử, dân chủ mang tính giai cấp, chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm quyền nhất định. Nhà nước chủ nô ra đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ ở Athen, Hy Lạp cổ đại. Giai cấp chủ nô đã nhân danh xã hội, chiếm đoạt Nhà nước, biến Nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực của riêng mình, làm cho tính chất dân chủ bị giới hạn trong giai cấp chủ nô và lớp người tự do, không có dân chủ cho những nô lệ, thậm chí họ còn không có quyền là con người và bị coi là những “công cụ biết nói”. Khi đánh giá về chế độ dân chủ tư sản, Lênin cho rằng “.
Là một chế độ thuần nhất và hoàn hảo nhất trong các chế độ mang tính chất tư sản…”[63, tr.377] “song trước sau nó vẫn là – và dưới chế độ tư bản nó không thể không là – một chế độ dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có” [57, tr.305] sở dĩ có điều đó, vì trong chế độ dân chủ tư sản, bọn tư bản dùng trăm phương ngàn kế… để gạt quần chúng ra, không cho họ tham gia quản lý nhà nước. không cho quần chúng lao động tham gia nghị viện tư sản – nghị viện tư sản. một công cụ áp bức của giai cấp tư sản đối với vô sản” [57, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Do vậy, những người cộng sản không được ảo tưởng, quá hy vọng vào những cải cách trong chế độ tư bản chủ nghĩa, cũng không được coi “.
chế độ cộng hòa dân chủ là chế độ dân chủ thuần túy, là nhà nước nhân dân tự do”. Với những luận điểm trên, V.Lênin đã phê phán quan điểm mơ hồ của những người “tự do” về bản chất giai cấp của dân chủ, V.Lênin chỉ ra cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động không bao giờ được quên bản chất giai cấp của dân chủ, phải luôn đặt câu hỏi: quyền dân chủ đó của ai, cho giai cấp nào và cho cái gì?.Lênin cũng chỉ ra rằng, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản chúng ta phải tận dụng những quyền tự do dân chủ do chế độ đó tạo ra để tuyên truyền giác ngộ quần chúng nhân dân, giáo dục ý thức xã hội chủ nghĩa cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm tiến tới thiết lập chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, chế độ dân chủ cho quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Lênin cũng không quên nhắc nhở những người cộng sản: Chuyên chính vô sản không chỉ là bạo lực, không phải chủ yếu là bạo lực mà là tổ chức xây dựng xã hội mới. Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ rõ không có dân chủ chung chung, mà dân chủ bao giờ cũng mang tính giai cấp.
Lênin khẳng định, trong xã hội có giai cấp không thể có một nền dân chủ phi giai cấp, ngoài giai cấp, siêu giai cấp. Theo ông luận điệu của bọn Causky, bọn Saiđơmen về dân chủ thuần túy, dân chủ chung chung chỉ là sự lừa bịp quần chúng nhằm che dấu tính chất tư sản của nền dân chủ mà chúng bảo vệ. Với thắng lợi của cách mạng XHCN, giai cấp vô sản đã giành được chính quyền nhà nước về tay mình, thì nền dân chủ kiểu mới, dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng dần dần được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Dân chủ XHCN là dân chủ của đa số nhân dân lao động (giai cấp công nhân, nông dân và các tầng lớp lao động khác), bảo vệ quyền và lợi ích của đa số nhân dân lao động, đồng thời trấn áp mọi sự phản kháng của giai cấp bóc lột.
Dân chủ XHCN được thực hiện bằng Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện bản chất 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giai cấp công nhân, tính nhất nguyên của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; đồng thời là điều kiện cơ bản đảm bảo tính định hướng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tính tự giác trong xây dựng, củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Kế thừa những di sản về dân chủ trong lịch sử nhân loại đặc biệt là tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin được phản ánh trên nhiều phương diện khác nhau, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển hết sức sáng tạo tư tưởng về dân chủ và thực hiện dân chủ phù hợp với đặc thù dân tộc Việt Nam. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh dân chủ có nghĩa là dân làm chủ, dân phải trở thành người chủ thật sự của đất nước, của cách mạng.
Người nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [6, tr. Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ [7, tr.