CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Tống quan tình hình ngộ độc thực phẩm Theo Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (U. Food and Drug Administration — FDA), các tác nhân vi sinh vật gây bệnh chủ yếu trong thực phẩm bao gôm: Escherichia coli, Salmonella spp., Yersinia enterocolitica, Yersinia pseudotuberculosis, Vibrio chloerae, Vibrio parahaemolyticus, Vibrio vulnificus, Listeria monocytogenes, Staphylococcus aureus, Bacillus cereus, Clostridium perfringens va Clostridium botulinum |1|. Ở Mỹ, theo thống kê của Elain Scallan et al. (2011) ở Mỹ thực hiện tại Trung tâm kiểm soát và phòng chồng dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention), Aurora, Colorado thì hàng năm 31 chủng gây bệnh chủ yếu trong thực phẩm gây ra 9.4 triệu ca ngộ độc, trong đó có 55,961 ca phải nhập viện va 1,351 trường hợp tử vong.
Trong đó khoảng 58% ca ngộ độc gây ra bởi virus, tiếp đó là Salmonella spp. (11%), Clostridium perfringens (10%) va Campylobacter spp. Trong số các ca phải nhập viện, nguyên nhân dẫn đầu là do nhiễm Salmonella spp. Trong số các ca tử vong, dẫn đầu vẫn là Salmonella spp.
Trong khi đó, tai Châu Au, theo báo cáo của Co quan An toàn thực phẩm Châu Au (European Food Safety Authority - EFSA) và Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Châu Âu (European Centre for Disease Prevention and Control - ECDC) trong năm 2011, ghi nhận 5,648 ca ngộ độc gây ra chủ yếu bởi Salmonella spp., các độc tố vi khuẩn, Campylobacter spp. va các loại virus, thực phẩm chủ yếu gây ngộ độc bao gồm trứng, thức ăn hỗn hợp và hải sản [3]. Ở Việt Nam, theo số liệu thong kê đến năm 2012 của Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, năm 2007 xảy ra nhiều nhất với tổng số 247 vụ với tong số ca ngộ độc là 7,329; số nhập viện là 5,584; gây tử vong 55 ca. Năm 2008 giảm xuống còn 205 vụ nhưng số Trang 3 ca ngộ độc, số nhập viện và số tir vong gia tang lần lượt là 7,829: 6,526 va 62 ca, cao nhất trong cả giai đoạn.
Tu năm 2009 đến năm 2012, chỉ trừ năm 2010, xu hướng ngộ độc thực phẩm nhìn chung có xu hướng giảm ở cả ba khía cạnh là tổng số vụ, số ca, số nhập viện và số tử vong. điều này cho thấy nỗ lực của các cơ quan có thắm quyền cũng như ý thức của người dân ngày một tốt hơn trong những năm gần đây. Tuy nhiên tình hình ngộ độc ở Việt Nam vẫn hết sức nghiêm trọng, do đó van đề cần đặc biệt lưu tâm là phải dé ra được chiến lược tốt nhất dé đảm bảo nguồn cung thực phẩm có chất lượng cao và đảm bảo đủ an toàn trước khi đưa ra thị trường. Bên cạnh đó, khi ngộ độc thực phẩm xảy ra, cần phải có phương pháp nhanh chóng xác định chính xác tác nhân gây ngộ độc nhằm đưa ra phác đồ điều trị riêng cho từng bệnh nhận, tránh các biến chứng nghiêm trọng do ngộ độc gây ra [4].1: Tình hình ngộ độc tại Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2012 [4] STT Năm Tổng số vụ Số ca Số nhập viện | Số tử vong | 2007 247 7329 5584 55 2 2008 205 7829 6525 62 3 2009 152 5212 4137 35 + 2010 175 5664 3978 51 5 2011 148 4700 3663 27 6 2012 168 5541 4335 34 1.2 Các vi sinh vat gây bệnh chủ yếu trong thực phẩm 1.1 Đặc điểm phân loại Escherichia coli là vi khuan Gram âm, hình que (1-2 chiều dài), hiếu khí và có khả năng di động.
Một số chủng gây bệnh có khả năng chịu acid. Da phan các chủng E. Trang 4 coli không gây độc và nguy hiểm cho con người và động vật. coli là đối tượng vi sinh vật chủ yếu trong nghiên cứu sinh lý học, trao đổi chất, quy luật di truyền, truyền tín hiệu và cấu trúc chức năng của vách tế bào.
Triệu chứng nhiễm các chủng E.coli gây bệnh bao gồm viêm dạ dày, viêm ruột, ly, hội chứng nhiễm độc uré (hemolytic uremic syndorome - HUS), hội chứng nhiễm trùng đường tiết niệu (urinary tract infection - UTI), nhiễm trùng máu, viêm phổi và viêm màng não. Các ca ngộ độc gia tăng trong các năm gan đây chủ yếu liên quan đến các chủng enterohemorrhagic E. coli chủ yếu do tiêu thụ thịt, rau quả thối. coli thuộc họ Enterobacteriacea, thường gặp trong nhóm vi sinh vật đường ruột của động vật máu nóng.
Chúng được thải vào trong môi trường thông qua phân và gây ô nhiễm đất và nước, có thé ảnh hưởng đến rau quả nếu phân sử dụng cho tưới tiêu không được xử lý cân thận. Thịt cũng có thé bị nhiễm E. coli do quá trình giết m6 có tiêp xúc với phân. Lớp kháng nguyên O quyết định nhóm huyết thanh của E.
Kháng nguyên O có chứa lipopolysaccharide (LPS), có tat cả 174 kháng nguyên O, được đánh số từ 1-181, bỏ qua các số 31, 47, 67, 72, 93, 94 và 122. Ngoài ra còn có 53 kháng nguyên kiêu H hay kháng nguyên tiêm mao (flagellar antigens) (H1-H53) và 80 kháng nguyên kiêu K hay kháng nguyên vo (capsular antigen). Chung không có tiêm mao và không có kha năng di động. coli có thé có nhiều kiểu kết hop kháng nguyên khác nhau, trong đó kháng nguyên “O” giúp xác định nhóm kháng nguyên trong khi “H” giúp xác định kháng nguyên.
Tuýp gây độc (virotype) hay tuýp gây bệnh (pathotype) được xác định dựa trên sự hiện diện của các yếu tổ gây độc và tác động của chúng đối với tế bào hoặc mô động vật như bám dính, xâm nhiễm và sản sinh độc tố. coli gây độc chia làm 6 tuýp gây độc bao gém: enterotoxigenic E. coli Trang 5 (EPEC), enterohemorrhagic EF. coli (EHEC), enteroinvasive FE.
coli (EAEC) va diffusely adhering FE.2 Thong tin di truyén Theo kết qua giải trình tự của Perna et al. (2001), genome của Escherichia coli O157:H7 dài 5,527,445bp., trình tự gene 16S ribosomal RNA cua Escherichia coli O157:H7 dài 1,554bp., nam ở vị tri từ 227,103 đến 228 644 [6]. Escherichia coli O157:H7 EDL933, complete genome GenBank: AE005174.2 GenBank FASTA Link To This Page | Feedback | , 500 K iM |1500 K 2M 2,500 K 3M |3,500 K aM 4,800 K IBM 5528.1Kbp)v | Find: || | - + al 3Toosv = | ##Ầ€onfgure @? ? v [226,200 |z284Q fez6,600 |228.808 |227 K 227,200 |227408 |227/808 |227,80Q |228K 228,200 |z284Qg |2z8/800 |z28888 |223K |Z Genes kở rrsH 1 rRNR-16S ribosondl. BE nn rRNA-23S ribosomal.
Ty yoeD ileU >— tRNA-lle BE alaU tRNA-Ala BE Repeat region * Hình 1.1: Vi trí trình tự gene 16S ribosomal RNA cua Escherichia coli Q157:H7.1 Đặc điểm phân loại Daniel E. Salmon lần đầu tiên phân lập Salmonella từ lợn năm 1885 va đặt tên là Bacterium choleraesuis (nay là Salmonella enterica serovar Choleraesuis). Salmonella gây ra viêm da dày va ruột, bệnh thương han và là một trong những tac nhân gay bệnh chủ yếu ở cả các nước đang phát triển lẫn đã phát triển. Thống kê toàn cầu đã ghi nhận 16 triệu ca nhiễm thương han, 1.3 ti ca viêm dạ day và ruột và 3 triệu ca tử vong liên Trang 6 quan đến Salmonella.
Riêng ở Mỹ hang năm Salmonella gây ra 2-4 triệu ca, số tử vong lên đến 500-1000 và gây ton thất kinh tế vào khoảng 3 tỉ đô la. Chi Salmonella thuộc ho Enterobacteriaceae, thuộc nhóm vi khuẩn Gram âm, không sinh bào tử. Salmonellae di động (trừ Salmonella Pullorum và S. Gallinarum) va có tiêm mao.
Salmonella là vi khuẩn hiểu khí không bat buộc, có thé phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 5-45°C, nhiệt độ tối thích từ 35-37°C. Chúng có thé phát triển trong điều kiện pH thấp và nhạy cảm với sự gia tăng nồng độ muối trong môi trường nuôi cay. Salmonella có dạng nhiều sợi tiêm mao trong điều kiện khắc nghiệt từ 4-8°C hoặc từ 44°C và khi phát triển ở pH 4. Salmonella có mặt trong đường ruột của chim, bò sát, rùa, côn trùng, gia súc và con người.
Gia cầm là một trong những nguồn gây nhiễm Salmonella chủ yếu. Khả năng nhiễm Salmonella có nguy cơ gia tăng do quá trình giết mỗ không hợp vệ sinh. Trứng cũng là một trong những nguốn chứa Salmonella, đặc biệt là serovar Enteritidis do vi sinh vat này có thé xâm nhập vào buông trứng của gà mái. Sự xâm nhiễm này khiến cho trứng bị nhiễm Salmonella trước cả khi vỏ trừng được hình thành.
Kết quả là, trứng được bảo quản ở nhiệt độ phòng có thé chứa nồng độ Salmonella rat cao, có thé lên đến 10!” tế bào/ qua. Các ca ngộ độc do nhiễm Salmonella chủ yếu do tiêu thụ các sản phẩm từ động vật như thịt, sữa, thịt gia cầm và trứng. Các sản phẩm sử dụng hàng ngày như phô mai và kem cũng là một trong những nguồn gây ngộ độc. Trong những năm trở lại đây, rau quả như rau diép, ca chua, rau mam, quả hạnh nhân cũng được ghi nhận như là một trong những nguôn lan truyền Salmonella.
Quá trình canh tác co hữu cũng làm gia tăng nguy cơ gây nhiễm các tác nhân gây ngộ độc thực phẩm. Salmonella được xếp nhóm dựa trên kháng nguyên O, kháng nguyên tiêm mao (H) và kháng nguyên vỏ (Vi). Có tat cả 2,463 kiêu kháng nguyên Salmonella thuộc 2 loài: Salmonella enterica va Salmonella bongori, trong đó S. enterica chứa 2443 kiêu Trang 7 kháng nguyên và S.
bongori chứ 20 kiểu kháng nguyên. enterica có 6 dưới loài, được đánh số La mã từ I đến VI bao gdm: I (enterica), II (salamae), IIIa (arizonae), IIIb (diarizonae), IV (houtenae) và VI (indica) [5].2 Thong tin di truyén Theo kết quả giải trình tự của Deng et al. (2003), genome của Salmonella enterica subs. Enterica serovar Typhy dai 4,791 ,96bp., trình tu gene 16S ribosomal RNA cua Salmonella enterica dai 1 ,534bp., namở vị trí từ 287,477dén 289,010 [7].
Salmonella enterica subsp. enterica serovar Typhi Ty2, complete genome GenBank: AE014613.1 GenBank FASTA Link To This Page | Feedback Reco gm pate eau ee 1 J4 1 4) Ti § tiệt = | 4,791,981 wore AE014613.1Kbp)~ | Find: || | - + ae 3 Toosv = | HEConfigure GZ 2 ~ enes *% rRNA-23S ribosondl. LID t8252 rRNA-16S ribosomal. neD ta253 tRHR-6lu E2 Hình 1.2: Vi trí trình tự gene 16S ribosomal RNA cua Salmonella enterica.1 Đặc điểm phân loại Shigella lần đầu được phát hiện bởi nhà vi sinh học người Nhật Kiyoshi Shiga vào năm 1896.
Độc tố sinh ra bởi vi sinh vật này được gọi là Shiga toxin. Shigella thuộc họ Enterobacteriaceae, thường gặp ở nguồn nước bị nhiễm phân người, và lan truyền sang người thông qua con đường ăn uống. Các ca ngộ độc do nhiễm Shigella thường gặp ở các nước đang phát triển. Uống phải nước hoặc ăn phải thực phẩm có nhiễm phân người được cho là nguyên nhân chính gây nhiễm Shigella.Cho đến nay ước tinh Trang 8 có khoảng 1.1 ca tử vong và 165 triệu ca bệnh ly hàng năm trên toàn thé giới, trong đó trẻ em dưới 5 tuối có nguy co mac bệnh ly cao.