Đặt vấn đề Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), Việt Nam hiện đang đứng 12 trong 22 quốc gia có tình hình lao nghiêm trọng nhất thế giới. Theo ước tính của WHO, hàng năm chúng ta có khoảng 154.000 người mắc lao các thể, trong đó khoảng 69.000 người mắc lao phổi có thể tìm thấy vi khuẩn trong đờm AFB(+) [4], Trong giai đoạn 2001 - 2005 trung bình mỗi nàm. Chương trình chống lao (CTCL) phát hiện được khoảng 97.000 người, trong đó khoảng 55.000 người mẳc lao phổi mới AFB(+), đạt tỉ lệ 84% [29], Kết quả điều trị khỏi với số người bệnh lao phổi AFB(+) mới chỉ đạt trung bình 91%. Tuy nhiên, số ca bệnh phát hiện hàng năm chưa có xu hướng giảm do nhiều yếu tố tác động như: đồng nhiễm HIV.
lao kháng thuốc, tỷ lệ phát hiện còn ở dưới mức thực tế yêu cầu. chất lượng phát hiện và điều trị lao ở khu vực y tế tư nhân còn thấp. Với đường lối chủ trưcmg của Đảng và Nhà nước, y tế ngoài công lập đã trở thành bộ phận quan trọng đã và đang ngày càng phát triến trong hệ thong y te nói chung. Chính phủ và Bộ Y tế đã chỉ đạo bằng nhiều văn bản tạo hành lang pháp lý cho việc hành nghề y, dược tư nhân [12].
Qua một số khảo sát của CTCLQG cho thấy một số lượng lớn người có triệu chứng hô hấp đen lần đầu với y tế tư nhân vì nhiều lý do khác nhau như: gần nơi họ sinh hoạt, đi lại thuận tiện, thủ tục nhanh chóng không rườm rà. không mất nhiều thời gian chờ đợi, hoặc do kỳ thị của cộng đồng không muốn đển tại phòng khám công. Có tới trên 37,4% bệnh nhân lao đã đen khám lần đầu tại các cơ sở y tế tư nhân và thời gian kéo dài chẩn đoán có nơi tới 30 tuần. Khoảng 1/4 so cơ sở y tế tư nhân được khảo sát có tham gia vào điều trị lao.
Tuy nhiên, việc tuân thù các nguyên tắc về điều trị lao theo CTCL chưa tốt: 85% điều trị dưới 6 tháng; 23% điều trị 2 thứ thuốc phối hợp. Điều này đã làm kéo dài thời gian điều trị, tăng nguy cơ kháng thuốc, nguy cơ lây nhiễm ra cộng đong cao.Qua khảo sát này cho thấy tiềm năng lớn các cơ hội phát hiện sớm bệnh lao ở khu vực y tế tư nhân chưa được khai thác, việc tham gia điều trị lao còn chưa nhiều, nhưng sẽ có những hậu quá không tốt đến kết qua điều trị, đặc biệt có thể gây gia tăng tỉ lệ lao kháng đa thuốc. 2 Từ các bài học rút ra ở các nước đã triến khai trên thế giới cho thấy hoạt động phối hợp y tể công - tư cho những kết quả đáng khích lệ: có thể làm tăng thêm tỷ lệ phát hiện tới 20%. tỷ lệ điều trị khỏi đạt 75 - 90%.
giảm chi phí y tế cho người dân và huy động được nhiều đối tác tham gia với chương trình chống lao. Có 4 mô hình phổ biến là (1) Mô hình chuyển người bệnh nghi lao từ cơ sở y tế tư đến các cơ sở chống lao để được khám và chần đoán bệnh lao: (2) Mô hình xét nghiệm chấn đoán bệnh lao: (3) Mô hình điều trị bệnh nhân lao và (4) Mô hình phối hợp xét nghiệm chân đoán và điêu trị bệnh nhân lao, trong đó mô hình 1 hiện đang áp dụng chủ yếu ở 17 tỉnh thành tại Việt Nam. Tại Bình Định từ tháng 11/2011 mới được triển khai mô hình chuyển người bệnh nghi mắc lao từ các cơ sở ỵ tế tư nhân đến cơ sở y tế chống lao để khám và chẩn đoán lao. Mô hình này được triển khai thí điểm tại 6 huyện, đổi tượng chu yếu là các phòng khảm, các quầy/hiệu thuổc tư nhân nhưng hiện chưa có nghiên cứu.
đánh giá nào về hoạt động này, vì vậy nghiên cửu này nhàm mục đích tìm hiểu thực trạng phổi hợp y tế công - tư trong công tác phòng chống lao tại Bình Định cũng như các thuận lợi và khó khăn gặp phải đối với y tế tư nhân trong việc chuyên bệnh nhân nghi mác lao đến khám tại các cơ sở chống lao. từ đó đề xuất các nhóm giải pháp đay mạnh sự tham gia của y te tư tham gia vào chương trình cùng với Nhà nước và CTCLQG đấy lùi bệnh ỉao và tiến đến thanh toán bệnh lao trong tương lai. 1 ' 3 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng triển khai mô hình chuyển người bệnh nghi mắc lao từ phòng khám tư đến cơ sở chống lao và đề xuất các nhóm giải pháp tăng cường hoạt động phổi hợp y tế công - tư phù hợp tại Bình Định. Mục tiêu cụ thể: 1.
Mô tả thực trạng phát hiện, điều trị lao tại tỉnh Bình Định năm 2011. Phân tích sự phối hợp của cơ sở y tế tư nhân trong việc chuyển người bệnh nghi mẩc lao đến khám tại cơ sở chống lao năm 2012. Tìm hiểu các yếu tố thuận lợi, yếu tố cản trở việc chuyển bệnh nhân nghi mắc lao của phòng khám tư nhân tham gia vào các hoạt động phối hợp y tế công - tư tại Bình Định. 4 Chưoìig 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Dịch tễ học bệnh lao Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn năm nay, trên thế giới chưa bao giờ và không có một quổc gia nào, một khu vực nào, một dân tộc nào không có người mác bệnh lao và chết do lao, Do sụ phát minh các thuốc hóa học chổng lao khiến việc chữa lao đơn giản hơn và hiệu quả hơn. đông thời đã phát sinh tâm trạng lạc quan của y giới, đã làm lãng quên căn bệnh nguy hiểm này. Ngày nay, bệnh lao đang xuất hiện trở lại và cùng với đại dịch HIV/AIDS trở thành một trong những căn nguyên gây mắc bệnh và tử vong chủ yểu. đặc biệt tại các nước đang phát triển.
Tình hình bệnh lao trên thế giói Hiện nay, trên thê giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiêm lao (chiêm 1/3 dân số thế giới). Theo số liệu công bổ của Tổ chức Y tể thế giới [26]. ước tính trong năm 2003 có thêm khoảng 9 triệu người mẳc lao mới và 2 triệu người chết do lao. Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% sổ người chết do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuôi lao động.
Trong năm 2004, hơn 20 triệu người bệnh đã được điều trị theo chương trình DOTS và hơn 16 triệu người trong sô này đã được điêu trị khỏi. Mặc dù tỷ lệ điêu trị thành công các ca lao mới trên toàn thể giới đã đạt tới 84% trong năm 2005, song tỳ lệ phát hiện bệnh trong năm 2006 mới chỉ đạt 61%, như vậy còn một sô lượng lớn bệnh nhân lao ngoài cộng đồng chưa được phát hiện và đăng ký điều trị và đó là nguồn lây lan cho cộng đồng và là một gánh nặng cho CTCL. Theo WHO [30] sổ liệu dịch tể học bệnh lao toàn thế giới như sau: Có 9,2 triệu người bệnh lao mới xuất hiện trong năm tương ứng 139/100.000 dân; 14,4 triệu người bệnh lao cũ và mới lưu hành; 4.1 triệu bệnh lao AFB(+) tương ứng 62/100.000 dân, bao gồm 0,7 triệu HIV(+); 1,7 triệu người chết do lao, trong đó 0,2 triệu người nhiễm HIV; 98% số người chết ở các nước đang phát triển. Tình hình bệnh lao tại Việt Nam Theo WHO [26], Việt Nam là một trong 22 quốc gia có tình hình bệnh lao nghiêm trọng nhất thể giới.
Theo ước tính của WHO. hàng năm chúng ta có khoang 154.000 người mấc lao các thể (tương đương 192/100.000 dân), trong đó khoảng 69.000 người mắc lao phổi có thể tìm thấy vi khuẩn trong đờm AFB(+) (tương đương 85/100. Với số liệu ước tính đó Việt Nam đứng hàng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh Lao cao nhất trên thế giới. Trong giai đoạn 2001 - 2005 trung bình mỗi năm, CTCL phát hiện được khoảng 97.000 người, trong đó khoảng 55.000 người mắc lao phổi AFB(+) mới.
đạt tỉ lệ phát hiện là 84% [29]. Kết quả điều trị khỏi với sổ người bệnh lao phối AFB(+) mới đạt trung bình 91%. Từ khi có chương trình DOST mở ra đã tạo một bước ngoặc lớn trong công tác phòng chổng lao trên toàn quốc tỷ lệ phát hiện tăng cao hơn, số bệnh nhân được điều trị khỏi năm sau cao hơn năm trước, nhưng bên cạnh đó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ và thách thức như: tình trạng thiếu hụt nhân lực, bệnh lao ngày càng trẻ hóa. lao kèm HIV/AIDS.
lao kháng thuốc, tỷ lệ phát hiện còn thấp ngoài cộng đồng [11]. Theo ước tính của CTCL cả năm mỗi nước có thêm 180.000 mẳc bệnh lao trong đó có hơn 5% bệnh nhân lao nhiễm HIV, gần 6.000 bệnh nhân lao kháng đa thuốc và có tới trên 20.000 người chết do lao. Đáng lo ngại hơn khi cả nước mới phát hiện được khoảng gần 60% sổ bệnh nhân lao mới và khoảng 10% so bệnh nhân kháng đa thuốc xuất hiện hàng năm. Theo số liệu công bố của WHO [30] báo cáo năm 2008 ước tính chỉ số dịch tể bệnh lao tại Việt Nam như sau: Dân số 86,2 triệu dân Tỷ lệ người bệnh lao phối mới các thể 173/100.000 dân Tỷ lệ người bệnh lao AFB(+) mới 77/100.000 dân Tỷ lệ hiện mắc lao phổi các thể 225/100.000 dân Tỷ lệ tử vong do lao phổi 23/100.000 dân Tỷ lệ người bệnh mắc lao phổi mới nhiễm HIV 5,0% Tỷ lệ lao kháng thuốc ở người bệnh lao mới 2,7% Tỷ lệ lao kháng thuốc ở người bệnh lao đã điều trị 19% 6 1.
Triển khai phối hợp y tế công - tư trong hoạt động phòng chống lao Một số khái niệm giải thích các thuật ngũ : Bệnh viện công lập: Là những bệnh viện được thành lập theo tiêu chuân và quy định của Bộ Y tể để khám, chữa bệnh cho nhân dân và được sử dụng nguồn ngân sách từ Nhà nước cấp theo quy định. Có nhiều loại bệnh viện: đa khoa, chuyên khoa. theo phân loại chung của Bộ Y tế; Bệnh viện đa khoa tư nhân: Là những bệnh viện được thành lập theo tiêu chuẩn và quy định của Bộ Y tế đề khám chữa bệnh cho nhân dân nhưng không sử dụng nguồn ngân sách do Nhà nước cấp mà bệnh nhân hoàn toàn tự chi trả hoặc chi trả một phần theo bảo hiêm y tế; Phòng khám đa khoa tư nhân: Là một cơ sở y te bao gồm nhiều phòng khám bệnh (nội.) do tư nhân tự bỏ kinh phí để thành lập khám, chữa bệnh bệnh cho nhân dân theo quy định của Nhà nước: '. Phòng khám tư nhân: Là một cơ sở y tê thường khám vê các bệnh chuyên khoa đơn lẻ: phòng khám nội, phòng khám nhi.