Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO TÂY TẠNG 1. Khu tự trị Tây Tạng Nước Thổ Phồn xưa và Khu tự trị dân tộc Tây Tạng ngày nay, trải qua nhiều tên gọi khác nhau: “Ô Ti Tạng” (Wu sizang), “Tây Phiên” (Xifan), “Đường Cổ Đặc” (Tang gute), “Đồ Bác Đặc”(Tu baite),… với ý nghĩa là “cõi Tây phương tịnh độ”. Vị trí Khu tự trị Tây Tạng từ 260o50' đến 36o53' Vĩ bắc và từ 78o25' đến 99o06' Kinh đông, nằm ở giữa trên cao nguyên Thanh-Tạng, với độ cao trung bình là 4800 mét; trong đó có 11 ngọn núi có độ cao trên 8000 mét so với mặt nước biển. Toàn bộ Tây Tạng núi non trùng điệp, tuyết phủ quanh năm nên nó được mệnh danh là “nóc nhà thế giới” hay “vùng đất của tuyết” [92].
Phía Bắc Tây Tạng tiếp giáp với cao nguyên Pamia tỉnh Tân Cương và nối liền với dãy núi Côn Luân; phía Đông liền kề với tỉnh Thanh Hải và Tây An; phía Nam giáp với dãy núi Hymalaya, Ấn Độ, Xích Kim, Nepan; phía Tây giáp với Ca-sơ-mia, Pa-ki-xtan, Áp-ga-ni-xtan. Khu tự trị dân tộc Tây Tạng là một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc. Từ năm 1912 đến năm 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng do chính phủ Tây Tạng quản lý và đứng đầu là đức Đạt Lại Lạt Ma. Ngày nay, khu vực Tây Tạng được phân thuộc các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam.
Năm 1950, quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cho quân đội lên cắm chốt khu vực Chamdo của Tây Tạng. Dưới sức ép của quân đội Trung Quốc, năm 1951, đức Đạt Lại Lạt Ma đã ký một “Hiệp ước 17 điểm” với chính quyền Trung ương Trung Quốc nhằm xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng thuộc về lãnh thổ Trung Hoa [107]. Mặc dù bản “Hiệp ước 17 điểm” có ghi chép là đảm bảo duy trì một chính quyền tự trị tự do do đức Đạt Lại Lạt Ma đứng đầu lãnh đạo, nhưng đến năm 1955, một “Ủy ban soạn thảo về khu tự trị Tây Tạng” được soạn ra để xúc tiến thành lập hệ thống song song về hành chính theo đường lối cộng sản Trung Quốc. Trước sức ép của quân đội, cảnh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sát, cuối năm 1959, đức Đạt Lại Lạt Ma phải từ bỏ “Hiệp ước 17 điểm” và chạy sang Ấn Độ lưu trú.
Năm 1965, khu tự trị các dân tộc Tây Tạng được thành lập và từ thời gian này trở đi, Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Khu tự trị dân tộc Tây Tạng lấy thành phố La-sa làm trung tâm hoạt động tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị của người dân địa phương. Khu tự trị này, bao gồm nhiều hệ thống cấp “châu tự trị” nhỏ. Do vị trí của Tây Tạng nằm giữa trung tâm Châu Á, nên nhà nước Trung Quốc coi Tây Tạng là vùng phên dậu bảo vệ biên cương phía Tây Nam và nó có vị trí cực kỳ quan trọng về mặt quân sự, quốc phòng, an ninh, chính trị của nhà nước và khu vực [18:265].
Diện tích tự nhiên của Tây Tạng là 120 vạn km2 [52:18]. Dân số là 3002166 người; trong đó dân tộc Tạng có 2716389 người, chiếm 90.48% dân số toàn khu; người Hán chiếm 8,17% và tỷ lệ còn lại là các dân tộc thiểu số khác [93]. Người Tạng thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, ngữ hệ Hán- Tạng. Các nhà nghiên cứu dân tộc học Trung Quốc, phân chia người Tạng thành ba nhóm địa phương, gồm: nhóm Tạng Ba, Khang Ba và nhóm An Đa.
Với nhóm Tạng Ba là nhóm người Tạng bản địa của nhà nước “Thổ Phồn” xưa, họ là những người nông dân ở lưu vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố và những người dân du mục ở phía Bắc; nhóm người Khang Ba địa bàn sinh sống chủ yếu là vùng núi Tây Khang và ở lưu vực sông Nhã Lỗ Tạng Bố; nhóm người An Đa cư trú chủ yếu ở các tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên và Vân Nam [47:27].TS Trịnh Hiểu Vân chia sẻ: Xét về mặt nhân chủng học, nhóm người An Đa có hình thể gần giống như người Mông Cổ, nên các nhà dân tộc học Trung Quốc còn xếp nhóm người này vào nhóm Tạng- Mông1. Song, các nhóm địa phương nêu trên lại đồng nhất về chữ viết. Từ năm 1949 đến nay, mọi giao dịch trong quản lý hành chính nhà nước đều dùng tiếng Trung, tiếng Tạng chỉ dùng trong giao tiếp, giáo dục ở trường học và kinh sách nhà Phật. Phật giáo Tây Tạng Vài nét về lịch sử Phật giáo và mối quan hệ với Phật giáo Tây Tạng 1 Phỏng vấn GS.
Trịnh Hiểu Vân (phòng nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Khoa học xã hội Vân Nam, Trung Quốc), nhân tham dự Hội nghị quốc tế “Bảo tàng với di sản văn hóa lưu vực sông Mê Kông và sông Hằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu” do Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Huế), ngày 11-12/6/2012. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo nhiều nguồn tài liệu ghi chép, tên gọi Phật giáo mang tên người sáng lập là Phật Đà. Đạo Phật chính là giáo lý mà Phật Đà thuyết giảng. Từ Phật, viết tắt của chữ Phật Đà, dịch âm của chữ “Buddha” từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và ở Việt Nam cũng gọi là “Bụt” hay “ông Bụt”, dịch nguyên nghĩa là “bậc giác ngộ” hoặc “giác giả” [34:479].
Theo Tiến sĩ Thích Đức Thiện, đạo Phật chia làm ba thời: thời quá khứ do Phật A Di Đà làm giáo chủ, thời hiện tại là do Phật Thích Ca Mầu Ni và thời tương lai do Phật Di Lặc sáng thế. Như vậy, Phật giáo ngày nay thuộc thời hiện tại, do Phật Thích Ca làm giáo chủ. Tên Thích Ca Mầu Ni được gọi sau khi Ngài tu “khổ hạnh” dưới gốc cây bồ đề và đã “giác ngộ” nên gọi là Phật, nghĩa là “Người giác ngộ chân lý”2. Theo truyền thuyết, Phật Thích Ca Mầu Ni sinh vào ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 624 trước Công nguyên tại vườn Lâm tì ni, thành Kapilavastu.
Tên thế danh của Ngài trước khi xuất gia là Thái tử Cù Đàm Tất Đạt Đa, cha tên là Suddedana (Tịnh Phạm Vương), mẹ là Ma Da (huyễn hóa) thuộc tầng lớp quý tộc. Hiện nay, về năm sinh và năm mất của Phật vẫn chưa có sự thống nhất, với nhiều số liệu về thời gian đưa ra khác nhau. Dựa theo cách giải thích của “Chúng thánh điển kỳ” do sư đồ cuối cùng truyền lại trong “Thiện kiến Tì Bà Sa Luật” dịch ra từ thời Nam Tề (Trung Quốc), Phật mất vào năm 485 trước Công nguyên và sinh vào năm 565 trước Công nguyên. Các quốc gia theo Đạo Phật ở Đông Nam Á thì căn cứ vào “Miến Điện Phật truyền” để tính thì Phật sinh năm 624 trước Công nguyên và mất 544 trước Công nguyên.
Cách giải thích này hiện nay đã được đại bộ phận các tín đồ Đạo Phật trên thế giới chấp thuận [43: 222]. Sau khi tu thành Phật vào năm 520 trước Công nguyên, Ngài đã từng giảng thuyết “Tứ đế”3 cho các vị Tỳ khưu và sau khi Ngài mất, các đệ tử của Ngài đã đem đạo Phật truyền bá tới vùng phía đông của hạ lưu sông Hằng, phía nam tới bờ sông Caođaveri; phía tây tới bờ biển A rập, phía bắc tới khu vực Thaiysiro. Ở thời kỳ 2 Phỏng vấn Đại đức Thích Đức Thiện (trụ trì chùa Phật Tích, xã Lạn Kha huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), ngày 25/10/2013. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thống trị vua Asoka thuộc vương triều Maurya, đạo Phật bắt đầu phát triển tới các vùng biên, bao gồm: phía đông tới Mianma, nam tới Xri Lanca, tây tới Xyri, Ai Cập…, nhanh chóng trở thành tôn giáo mang tính thế giới.
Sau khi vương triều Cusan (Kushan) hưng khởi thì lại truyền đến Iran, các nơi ở trung tâm Châu Á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc, rồi từ Trung Quốc truyền vào các nước Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản [43: 236-237]. Khi hệ phái Đại thừa phát triển, các nhà tu hành của hệ phái này muốn phân biệt sự cao thấp về mặt tư tưởng giáo lý nên đã gộp “Phật giáo Bộ phái” và “Phật giáo nguyên thủy” thành Phật giáo Tiểu thừa. Do ảnh hưởng của sự phát triển Phật giáo Đại thừa mà Phật giáo Tiểu thừa đã cải biến tư tưởng giáo lý của mình, được thể hiện trong Hữu bộ, Kinh thượng bộ. Ban đầu, giáo nghĩa của Hữu bộ dựa trên cơ sở của bộ “A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận” do ngài Ca Đa Diên Ni Tử soạn làm cơ sở tu tập và về sau từ bộ kinh này soạn ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận” nên giáo nghĩa của Hữu bộ trở nên cố định và không phát triển thêm về mặt tư tưởng.
Vào giữa thế kỷ IV tây lịch, ngài Harivarman người Trung-Ấn, thuộc dòng Bà la môn là người kết hợp nghiên cứu giáo nghĩa của “Đại chúng bộ” và giáo lý của “Đại thừa Phật giáo”, với mục đích thống nhất giáo nghĩa của các bộ phái; từ đó ông soạn ra bộ “Thành- Thực- Luận”. Nội dung của bộ này là căn cứ vào giáo lý “Tứ Thánh đế” để chỉnh đốn lại giáo lý của Phật giáo [12: 136]. Phật giáo Đại thừa khởi nguyên tư tưởng từ khi Phật đang còn tại thế và sau 100 khi Phật mất, trong hệ thống giáo đoàn mới chia Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Tới thời vua Asoka (A Dục Vương) thì tư tưởng của Phật giáo Đại thừa mới hình thành rõ nét.
Khởi nguyên của Phật giáo Đại thừa là vùng phía Nam Ấn Độ và được thành lập vào sau kỷ nguyên Tây lịch. Phật giáo Đại thừa tuy thành lập trước thời đại Thánh tăng Long Thọ, nhưng để tổ chức thành một hệ thống kinh điển mang tính tư tưởng triết lý đạo Phật thì phải tận đến khi Thánh tăng Long Thọ Bồ tát khởi nghiệp, thông qua việc chú giải kinh điển của phái Đại thừa, như các bộ “Đại Thừa Trí Độ Luận”, “Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận”. Trong thời điểm này, nhiều vị cao tăng Ấn Độ đã đến Trung Quốc tham gia dịch thuật kinh tạng của phái Đại thừa, như: năm 167 Tây lịch 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có nhà sư Chi Lâu Ca Sấm; năm 220 có thánh tăng Ngô Chí Khiêm; năm 252 có Khang Tăng Khải; năm 265 có Trúc Pháp Hộ tham gia dịch rất nhiều kinh điển Đại thừa từ chữ Ấn Độ sang chữ Hán hoặc chú thích kinh tạng. Các vị thánh tăng nêu trên đều sinh ra cùng thời với thánh tăng Long Thọ và đã phiên dịch rất nhiều kinh điển Đại thừa sang chữ Hán [12:158].
Thánh tăng Long Thọ là vị tỵ tổ của Phật giáo Đại thừa.