phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, và Phụ lục. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG Ở NAM BỘ VÀ KIÊN GIANG 1. Về Phật giáo Nam tông ở Nam bộ 1. Sự phân chia hệ phái Phật giáo và nguyên nhân Phật giáo Nam tông Khmer (tiếng Pali: Dakkhinanikàya) là một trong bốn tên của hệ phái; tên thứ hai là hệ phái Đại tông (Mahànikàya); tên thứ ba là Thƣợng tọa bộ (Theravàda); tên thứ tƣ ngoại lai không đƣợc chính thức công nhận là hệ phái Tiểu thừa (Hinayàna) [13, 213].
Khi Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Phật giáo vốn là một thể thống nhất, không có sự phân chia hệ phái. Chỉ đến khi Phật Thích Ca nhập Niết bàn, các đệ tử mới tập trung lại đọc tụng, ghi nhớ những điều Phật dạy, khi đó mới xuất hiện những quan điểm, hệ tƣ tƣởng khác biệt về việc thực hành giới luật. Bắt đầu vào lần kết tập kinh điển thứ hai đƣợc tổ chức tại thành Tì Xá Ly sau khi Phật nhập diệt hơn 100 năm để luận giải kinh điển, thực hành giới luật và tranh luận về 10 điều luật mới do một bộ phận tì kheo trẻ đƣa ra đã hình thành sự phân phái trong Phật giáo. 10 điều luật mới mà một bộ phận tì kheo trẻ đƣa ra và cho là hợp chính pháp, đó là: giáo diêm tịnh (đƣợc đem muối đựng trong sừng để bỏ vào các món ăn khi không đủ muối); lƣỡng chỉ sao thực tịnh (bóng nắng quá ngọ hai ngón tay vẫn đƣợc ăn); tụ lạc gian tịnh (trƣớc ngọ ăn rồi nhƣng đến làng khác vẫn đƣợc phép ăn); trụ xứ tịnh (ở đâu thì làm lễ Bá tát ngay ở đấy); tuỳ ý tịnh (quyết nghị đã đƣợc Đại hội dù ít dù nhiều cho thông qua đều có giá trị thi hành); cửu trú tịnh (noi theo điều lệ, tập quán); sinh hoà hợp tịnh (đƣợc uống sữa pha nƣớc sau giờ ngọ); thuỷ tịnh (rƣợu mới lên men đƣợc pha với nƣớc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com uống trị bệnh); bất ích lũ Ni sƣ đàn tịnh (đƣợc dùng toạ cụ không viền, kích thƣớc lớn hơn mẫu định); thụ súc kim ngân tiến định (đƣợc nhận tiền vàng bạc cúng dàng).
Các vị tì kheo lớn tuổi không chấp nhận, chủ trƣơng giữ nguyên điều Đức Phật dạy, tôn trọng lối truyền thừa. Các vị tì kheo trẻ không chịu, vì cho rằng có một số vấn đề đặt trong sự phát triển của xã hội không còn phù hợp nữa, nên thấy cần thiết phải sửa đổi một số điểm khi ghi vào kinh sách nên chủ trƣơng hành đạo theo tinh thần “Khế lý - khế cơ”, phù hợp với căn cơ, hoàn cảnh từng thời kỳ, từng vùng, miền của chúng sinh. Các vị sƣ có quan điểm khác nhau sau nhiều ngày tranh luận đã không tìm đƣợc tiếng nói chung, không thống nhất đƣợc quan điểm nên cuối cùng đã hình thành hai phái: Những vị sƣ chủ trƣơng giữ nguyên giới luật chiếm số ít và là những vị cao tuổi, ngồi bên trên để chủ trì Pháp hội nên đƣợc gọi là phái Thƣợng tọa bộ. Những vị sƣ trẻ chiếm số đông nên gọi là phái Đại chúng bộ.
Sau đó phái Đại chúng bộ truyền lên phía Bắc sang Trung Quốc… đƣợc gọi là Phật giáo Bắc tông hay Bắc truyền. Phái Thƣợng tọa bộ truyền về hƣớng Nam, phát triển xuống Srilanca, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào… nên đƣợc gọi là Phật giáo Nam tông hay Nam truyền. Phật giáo hệ Nam tông nghiêm trì giữ theo giới luật nguyên thủy và đọc tụng chủ yếu 5 bộ kinh khởi đầu, do đó Phật giáo Nam tông cũng đƣợc gọi là Phật giáo nguyên thủy [67]. Lược sử Phật giáo Nam tông ở Nam bộ Phật giáo Nam tông đƣợc truyền vào Việt Nam theo con đƣờng của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo đƣờng biển tới Srilanca, Myanmar, Thái Lan tới vùng sông Mê Công (Campuchia) và vào vùng các tỉnh ĐBSCL (phía Nam) của Việt Nam, đƣợc đông đảo ngƣời dân đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer đón nhận, trở thành tôn giáo của ngƣời Khmer, do đó gọi là Phật giáo Nam tông Khmer.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long từ rất sớm (vào khoảng thế kỷ thứ IV). Đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đại bộ phận các Phum (xóm), Sóc (nhiều xóm hợp thành) của ngƣời Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa với 8. Một số cộng đồng Khmer huyện Giồng Riềng còn đƣợc gọi là ấp.
Ấp có đông ngƣời Khmer đều có chùa thờ Phật. Phật giáo Nam tông Khmer là tôn giáo truyền thống mang tính biệt truyền trong cộng đồng dân tộc Khmer ở Tây Nam bộ, đƣợc hầu hết ngƣời Khmer tin theo [30]. Phật giáo Nam tông trao truyền giới luật theo giáo lý biệt truyền của hệ phái, cùng tồn tại và phát triển cùng các tôn giáo khác, nhƣng vẫn giữ vững đƣợc tính cách riêng biệt của mình, không chỉ là một tôn giáo mà nó còn mang đậm tính chất dân tộc, gắn liền với vòng đời mỗi ngƣời Khmer từ khi sinh ra cho đến lúc mất đi. Chính đặc điểm này đã tạo cho văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer mang một nét khác biệt so với các tông phái Phật giáo khác.
Tính đến tháng 6-2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 452 ngôi chùa với 8.574 vị sƣ (chiếm 19,3% tổng số sƣ trong cả nƣớc) [6, 2] tập trung chủ yếu ở ĐBSCL. Điều này cho thấy Phật giáo Nam tông Khmer đã có sức ảnh hƣởng sâu đậm đối với đời sống của ngƣời Khmer [30]. Ngƣời Khmer đã tiếp thu Phật giáo Nam tông đƣợc truyền từ Ấn Độ qua các con đƣờng khác nhau. Phật giáo Nam tông của ngƣời Khmer đƣợc gọi là Theravada.
Mặc dù lai tạp cả tín ngƣỡng dân gian và những tàn dƣ của Bàlamôn giáo, nhƣng Phật giáo Nam tông vẫn là tín ngƣỡng chính thống của ngƣời Khmer nƣớc ta [21, 64]. Trƣớc năm 1975, cùng với phong trào kháng chiến chống Mỹ, Hội ĐKSSYN Phật giáo Nam tông Khmer đƣợc thành lập. Nhiệm vụ của Hội lúc ấy là tuyên truyền vận động, tập hợp, đoàn kết các nhà sƣ có tinh thần yêu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nƣớc vào tổ chức, nhằm đầu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nƣớc. Sau giải phóng, Hội ĐKSSYN Phật giáo Nam tông Khmer tiếp tục duy trì hoạt động để phục vụ cho việc tuyên truyền, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nƣớc và công cuộc xây dựng đất nƣớc.
Từ năm 1981 đến nay, các hệ phái Phật giáo, bao gồm cả Phật giáo Nam tông Khmer, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam [51, 492-493]. Nhƣ đã đề cập ở trên, Phật giáo Nam tông có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống văn hóa tinh thần Khmer, là hồn cốt văn hóa của họ. Nói cách khác, văn hóa Khmer chính là văn hóa Phật giáo Nam tông. Chúng ta có thể thấy ảnh hƣởng của Phật giáo trên hầu hết các phƣơng diện đời sống của ngƣời Khmer, từ các nghi lễ, phong tục tập quán đến kiến trúc, hội họa, sân khấu, văn học.
Những năm gần đây, Phật giáo vẫn tiếp tục có vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng Khmer, các tập tục trƣớc đây về cơ bản vẫn đƣợc duy trì, tuy nhiên đã có ít nhiều thay đổi. Nhiều nam thanh thiếu niên Khmer không muốn đi tu, mà muốn đi học để có cơ hội phát triển bản thân; thời gian tu của sƣ sãi thƣờng ngắn hơn hẳn trƣớc đây, nhiều trƣờng hợp chỉ mang tính hình thức; do đó có sự suy giảm đáng kể số lƣợng sƣ sãi ở các chùa. Vấn đề cải đạo cũng đã xuất hiện ở một số địa phƣơng. Ở Sóc Trăng và Trà Vinh hiện nay có hiện tƣợng ngƣời Khmer theo đạo Tin Lành nhƣng vẫn đi chùa [2].
Đặc điểm Phật giáo Nam tông ở Nam bộ Có thể khẳng định rằng giáo lý Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông về cơ bản không có gì đối lập nhau. Bởi vì giáo lý đạo Phật đƣợc chia ra làm hai truyền thống: Nguyên thủy và Phát triển. Việc sử dụng từ ngữ Nguyên thủy và Phát triển thể hiện tính cốt lõi nhất quán, xuyên suốt của giáo lý đạo Phật, mà phần gốc, rễ là Nguyên thủy; phần thân ngọn cành lá là Phát triển. Những tƣ tƣởng của Phật giáo Phát triển mang tính kế thừa và bổ sung giáo lý Nguyên thủy, giáo trị của giáo lý Phát triển nằm ở chỗ vẫn giữ đƣợc nền tảng của giáo lý Nguyên thủy.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo lý Nguyên thủy và Phát triển có những điểm tƣơng đồng thể hiện rất rõ ràng và cơ bản nhƣ: Cả hai đều nhìn nhận Ðức Phật là bậc Ðạo sƣ, đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Duyên khởi.; đều chấp nhận Tam pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; đều chấp nhận con đƣờng tu tập Giới - Ðịnh - Tuệ, đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới. Với Phật giáo Nam tông, giáo lý sơ khởi là giáo lý hƣớng dẫn thực hành nên phù hợp với đồng bào dân tộc. Phật giáo Nam Tông thực hành những nguyên lý căn bản nhất từ Tam tạng Kinh điển Pāḷi truyền lại. Không màu mè, không cầu kỳ, không uyên thâm khó hiểu, các hình thức truyền đạt giáo lý và thực hành các nghĩ lễ tôn giáo đều gần gũi với đời sống Phật tử và tu sĩ.
Ngƣời tiếp nhận không cần có trình độ cao. Phật giáo Nam tông ngăn cấm việc biết, bàn, đến gần… đối với tu sĩ. Ví dụ cấm ngƣời tu hành đến gần phụ nữ, không đi chung đƣờng một mình với phụ nữ, không nhìn thẳng vào mặt phụ nữ… Hệ giá trị của Phật giáo Nam tông Khmer là một hệ thống các tiêu chí, chuẩn mực giúp tín đồ lựa chọn và định hƣớng hành động trong đời sống tôn giáo, là động lực tinh thần liên kết mọi tín đồ đồng thuận, tự nguyện tuân thủ. Hệ giá trị đó có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của cộng đồng ngƣời Khmer Nam bộ.
Quan niệm về “nghiệp chƣớng/nhân quả” (karma) và “phận/pháp” (dharma) có vị trí trung tâm. Quan niệm về nhân quả trong Phật giáo Nam tông cho rằng mỗi ngƣời từ khi sinh ra và lớn lên cho đến lúc chết đi đều phải chịu trách nhiệm đối với hành động của mình; thân phận, địa vị, hoàn cảnh của mỗi ngƣời ở kiếp này là kết quả của kiếp trƣớc; để có quả tốt (nghiệp chƣớng) tốt phải gieo nhân tốt, nổ lực làm việc tốt, tích phƣớc để kiếp sau có thân phận và cuộc sống tốt đẹp hơn.