phần mở đầu, kết hôn là cơ sở để hình thành nên gia đình - tế bào của xã hội, cái nôi nuôi dưỡng con người. Còn ly hôn là mặt trái không thể thiếu của cuộc hôn nhân khi mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, mục đích của việc kết hôn nhằm xây dựng gia đình hoà thuận, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng thương yêu quý trọng nhau không đạt được, cuộc sống gia đình đã mất hết ý nghĩa. Cơ sở pháp lý để chấm dứt một quan hệ vợ chồng bằng việc ly hôn theo pháp luật Việt Nam là một bản án hay quyết định của Toà án. Điều này được khẳng định tại Điều 42 BLDS như sau: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn”; hoặc Điều 8 LHNGĐ giải thích từ ngữ thì “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”.
Do vậy, có thể khẳng định, chỉ Toà án mới có quyền ghi nhận một cuộc hôn nhân là “đã chết”, dựa trên các căn cứ nhất định (Điều 89 LHNGĐ). Về vấn đề quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn, pháp luật nước ta công nhận quyền tự do kết hôn, đồng thời cũng công nhận quyền ly hôn của vợ chồng (khoản 1 Điều 85 LHNGĐ), tuy nhiên phải tuân theo một số điều kiện cụ thể về việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong trường hợp người vợ mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi (khoản 2). Quy định này thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Có một ngoại lệ là quy định này không áp dụng đối với người vợ nếu người đó muốn ly hôn.
Việc pháp luật Việt Nam đặt ra vấn đề hạn chế quyền ly hôn bởi lẽ hậu quả pháp lý của việc ly hôn không chỉ đụng chạm đến lợi ích riêng tư của vợ chồng, mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến lợi ích của con cái, lợi ích về tài sản. Nếu kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ và chồng thì ly hôn chính là cơ sở pháp lý để chấm dứt các quan 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài thường được giải quyết theo pháp luật của nước nơi đương sự mang quốc tịch hoặc nơi đương sự cư trú, trừ trường hợp quan hệ ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì việc giải quyết vấn đề tài sản tuân theo pháp luật nơi có tài sản. Theo LHNGĐ năm 2000 thì vấn đề quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài không được quy định thành điều khoản riêng biệt.
Thường thì khi giải quyết về vấn đề nhân thân và tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài, Thẩm phán áp dụng pháp luật về điều kiện, căn cứ ly hôn. Cụ thể, nếu thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Toà án Việt Nam thì sẽ áp dụng LHNGĐ Việt Nam, BLDS Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan để giải quyết các vấn đề hậu quả pháp lý của việc ly hôn, bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản (không phải là bất động sản ở nước ngoài) giữa vợ và chồng. Quan hệ về nhân thân. Quan hệ nhân thân sau ly hôn bao gồm quan hệ giữa vợ, chồng và quan hệ giữa cha, mẹ với con cái.
Quan hệ giữa vợ và chồng sau ly hôn. Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng khi hai người còn sống do một bên yêu cầu hoặc do cả hai bên thuận tình đã được Toà án công nhận bằng bản án cho ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về vấn đề ly hôn. Chấm dứt hôn nhân do ly hôn là hành vi có ý chí của một hoặc cả hai vợ chồng với sự quyết định của Toà án là việc giải quyết ly hôn. Quan hệ vợ chồng sẽ không còn tồn tại ngay sau khi bản án, quyết định của Toà án về việc ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng sau khi ly hôn có quyền kết hôn lại. Quan hệ giữa cha, mẹ với con sau ly hôn. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái không phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân còn tồn tại hay đã chấm dứt. Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền lợi đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ, bao hàm các vấn đề như: giao con cho ai nuôi sau ly hôn, việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, thay đổi nuôi con sau ly hôn… đều được pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ tại Điều 56 và các Điều từ 92 đến 94 LHNGĐ.
Quan hệ về tài sản sau ly hôn. Tương tự như đối với quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cũng chấm dứt kể từ sau khi bản án, quyết định của Toà án về việc ly hôn có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề chia tài sản sau ly hôn là vấn đề hết sức phức tạp, từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân… Không những vậy, việc giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa bởi việc xác định khối tài sản ở nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước ngoài. Do đó, khi giải quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam phải vận dụng linh hoạt các văn bản pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, đôi khi cả pháp luật nước ngoài.
Tuy nhiên, việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết quan hệ tài sản trong ly hôn tại Toà án Việt Nam trên thực tế chưa được áp dụng, vấn đề này xin được giải quyết ở Chương III của Luận văn. Từ những phân tích ở trên cho thấy, pháp luật điều chỉnh việc ly hôn nói chung, ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng “đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển xã hội. Nếu pháp luật điều chỉnh ly hôn không phù hợp sẽ làm cho xã hội hỗn loạn và hậu quả của nó là làm cho xã hội bị suy yếu. Ngược lại, nếu pháp luật điều chỉnh ly hôn phù hợp thì không những làm cho xã hội ổn định mà còn làm cho xã hội vững mạnh” [43, tr.
Bởi vì, như đã trình bày ở trên, ly hôn cũng có những điểm tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển một xã hội dân chủ, văn minh. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. ĐẶC ĐIỂM PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. Nguồn pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
Nguồn của pháp luật là những hình thức biểu hiện hoặc chứa đựng các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội nhất định. Tương tự như vậy, nguồn của pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc và quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nguồn của Tư pháp quốc tế Việt Nam bao gồm: (i) Pháp luật quốc gia tham gia điều chỉnh các quan hệ thuộc lĩnh vực Tư pháp quốc tế; (ii) Điều ước quốc tế; (iii) Tập quán quốc tế. Pháp luật quốc gia.
Pháp luật quốc gia (pháp luật trong nước) được xem là nguồn cơ bản của Tư pháp quốc tế, là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật trong nước nhằm điều chỉnh các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Trên thực tế, hình thức chứa đựng các quy phạm và các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài rất nhiều và đa dạng, vấn đề hình thức cụ thể nào được coi là nguồn của pháp luật trong nước thì hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật các nước khác nhau. Trên thế giới hiện nay, có khoảng hơn 40 hệ thống pháp luật khác nhau, nhưng có hai hệ thống pháp luật cơ bản, đó là: hệ thống pháp luật dân sự (Civil Lax System) và hệ thống pháp luật chung Anh - Mỹ (Common Law System) [44, tr. Điểm khác nhau cơ bản về nguồn pháp luật của nước theo hệ thống Common Law và nước theo hệ thống Civil Law là hình thức nguồn.
Hình thức nguồn pháp luật trong nước của Civil Law là hình thức luật thành 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn, còn Common Law ngoài việc sử dụng luật thành văn người ta còn sử dụng án lệ. Hệ thống pháp luật Việt Nam theo tiến trình lịch sử, là hệ thống pháp luật thành văn được hình thành từ rất sớm, điển hình là Quốc triều hình luật thời Lê. Trải qua gần một thế kỷ dưới sự đô hộ của thực dân Pháp - một nước điển hình trong hệ thống Civil Law, hệ thống pháp luật thành văn của Việt Nam không những không bị mai một mà còn được tiếp tục duy trì và phát triển. * Hiến pháp: Thuật ngữ Hiến pháp xuất phát từ chữ Hán (宪法).
Trong các ngôn ngữ Tây phương, chữ "hiến pháp" (constitution) xuất phát từ tiếng La-tinh, đề cập đến việc ban hành bất kỳ luật quan trọng nào. Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp luật cao nhất, trong đó quy định các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp luật đối với tất cả các vấn đề quan trọng nhất của một đất nước như: chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó bao gồm quyền về hôn nhân nói chung, quyền ly hôn nói riêng. Quyền về hôn nhân được coi là một trong những quyền cơ của công dân và được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam qua các thời kỳ, từ bản Hiến pháp đầu tiên là Hiến pháp năm 1946, cho đến Hiến pháp hiện hành năm 1992. Quyền này luôn được được pháp luật bảo hộ, thể hiện như sau: Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.