phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài được chia thành 3 chương gồm: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nội dung chủ yếu của pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam. Tiếp tục việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Mục đích của đề tài Việc nghiên cứu đề tài này nhằm tìm hiểu, cung cấp cho người đọc những kiến thức pháp luật về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam hiện hành và định hướng hoàn thiện do tác động của cơ chế hội nhập cũng như đáp ứng sự phát triển của kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra là: - Nghiên cứu các quy định của WTO liên quan đến ngành KDBH. - Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm. - Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển ngành bảo hiểm trên thế giới, tình hình phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm Việt Nam hiện nay, thực trạng pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này.
Từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới. Đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thị trường này cũng như các cam kết gia nhập WTO. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của các loại hình kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam; không bao gồm các tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm do Nhà nước thực hiện không nhằm mục đích kinh doanh. Phƣơng pháp nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường bảo hiểm các khu vực trên thế giới, kinh nghiệm pháp luật của các nước EU và Trung Quốc, so sánh đối 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam.
Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, đánh giá vị trí ngành bảo hiểm Việt Nam so với thế giới và khu vực. Sử dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề. Dùng phương pháp suy luận và tư duy biện chứng để đưa ra các đề xuất mang tính định hướng về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM ******************* 1.
Lịch sử hình thành và phát triển ngành kinh doanh bảo hiểm trên thế giới: 1. Lịch sử hình thành: Ngay nay, bảo hiểm là một ngành kinh doanh chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, các Công ty bảo hiểm có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng với bề dầy lịch sử tồn tại và phát triển. Đặc biệt đối với các nước phát triển, có những Công ty bảo hiểm đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm, đảm nhận trách nhiệm bảo hiểm, tái bảo hiểm cho nhiều Công ty lớn khác ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa ai có thể xác định chính xác nguồn gốc của bảo hiểm bắt đầu từ bao giờ.
Nhưng một điều không thể phủ nhận đó là các hoạt động sơ khai, mang tính bảo hiểm đã có từ rất lâu. Các hoạt động đó nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ cuộc sống con người ở mọi nơi, mọi lúc trước những rủi ro trong cuộc sống. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nhu cầu trở nên đa dạng và phức tạp hơn, cả về quy mô, mức độ và thời hạn. Theo đó, các hoạt động để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cũng phát triển một cách tương ứng.
Các hoạt động này dần dần được tổ chức ngày càng có quy chuẩn và chuyên nghiệp hơn, có sự ràng buộc chặt chẽ giữa các đối tượng tham gia hoạt động này và có tên gọi chung là bảo hiểm. Đúc rút từ quá trình hình thành và phát triển của hoạt động của con người mang bản chất của hoạt động bảo hiểm, các nhà nghiên cứu chia hình thái bảo hiểm trong lịch sử phát triển thành 3 giai đoạn cơ bản đó là: Dự trữ thuần túy, cho vay nặng lãi và thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm các bên. TIEU LUAN MOI download : 7skknchat@gmail. Dự trữ thuần túy: Xuất hiện từ thời Cổ đại, khi người nông dân nhận thấy rằng đôi khi xảy ra mất mùa hoặc quân xâm lược ngăn cản người dân thu hoạch mùa màng.
Mặc dù mỗi hộ dân có thể tự dự phòng cho gia đình họ, nhưng họ sớm nhận ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo cộng đồng có hiệu quả hơn. Mỗi người có khả năng sẽ đóng vào một khoản nhỏ những năm được mùa, khi giá lương thực xuống thấp. Và khi xảy ra các rủi ro làm giá lương thực lên cao, kho dự trữ sẽ thực hiện việc cấp lương thực cho các hộ dân, góp phần ổn định được đời sống trong cộng đồng dân cư. Hoặc điển hình như vào những năm 2.500 trước công nguyên (TCN), ở Ai Cập những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ để giúp đỡ những người trong hội bị tai nạn.
Trong hình thái này, giữa các chủ thể tham gia không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm hỗ trợ giữa các thành viên trong cộng đồng. Một phần do việc tạo lập các quỹ là hoàn toàn tự nguyện giữa các thành viên. Ngoài ra, do quy mô hoạt động của quỹ nhỏ, chủ yếu là những người có quan hệ gắn bó mật thiết về mặt huyết thống, trong phạm vi nhỏ hẹp nên yếu tố lợi nhuận chưa được đề ra [39,tr. Bảo hiểm dưới hình thức cho vay nặng lãi: Song song với việc phát triển của hoạt động ngân hàng để phục vụ mục đích tiêu dùng và sản xuất kinh doanh, mở rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng, các Châu lục.700 năm TCN) và AThen (khoảng 500 năm TCN), các hoạt động buôn bán, vận chuyển hàng hoá trên biển, qua sa mạc, giữa các thương nhân đã hình thành nên một điều kiện vay vốn đặc thù, và có thể coi đó là một hình thái của bảo hiểm.
Theo đó, khi hàng hóa bị mất trong quá trình vận chuyển thì người đi vay sẽ không phải trả khoản tiền đã vay. Chình bởi đặc điểm: khi gặp rủi ro người vay TIEU LUAN MOI download : 8skknchat@gmail.com không phải hoàn trả khoản tiền đã vay, làm bản chất của hoạt động này không phải là hoạt động vay vốn tín dụng mà là một loại hình bảo hiểm lúc sơ khai. Khiếm khuyết của hệ thống này là lãi suất hà khắc, có khi lên đến 50% và phải trả trước một lần. Hoạt động cho vay mạo hiểm lớn này tồn tại khá lâu và phổ biến ở nhiều khu vực trên thế giới, tại Rôme nó kéo dài đến tận thời kỳ Trung cổ – thời kỳ thống trị của nhà thời Thiên chúa giáo [39, 44].
Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên: Bảo hiểm dưới dạng cho vay nặng lãi đã bị lạm dụng và vào năm 1434, Giáo hoàng Grégoire IX đã ra sắc lệnh cấm hình thức này. Đồng thời, vào cuối thế kỷ XV, khi các thương gia Châu Âu thực hiện những chuyến đi khai phá tới Châu Á và Châu Mĩ, mở đường cho “cuộc cách mạng thương mại”. Ý tưởng về rủi ro và thành lập một quỹ chung đã xuất hiện cùng một lúc. Khi những đội tàu tìm cách đi từ Châu Âu tới Inđônêxia để mua bán hàng hoá.
Có những tàu trở về với nhiều loại hàng hoá hấp dẫn, song lại có những chuyến tàu không hoàn thành chuyến đi của mình do gặp bão biển, cướp biển, hư hỏng tàu, hàng hoá trong quá trình vận chuyển. Những người tham gia các chuyến đi thấy sự cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng bị mất trắng. Dẫn đến nhu cầu có một sự thoả thuận ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên có liên quan. Từ những thoả thuận đó, có 2 phương pháp đã được đưa ra để thực hiện đó là: * Hình thức cổ phần.
Chuyến hàng được tạo lập bằng sự đóng góp của nhiều người. Mỗi người góp một phần nào đó (bằng tiền hoặc hàng hóa) và cùng chịu trách nhiệm theo phần đóng góp đó. Khi chuyến hàng về đến đích, lợi nhuận sẽ được chia cho mọi người theo tỷ lệ đóng góp cổ phần. Nếu chuyến hàng TIEU LUAN MOI download : 9skknchat@gmail.com chẳng may gặp rui ro thì hậu quả thiệt hại cũng được chia sẻ cho nhiều người.
Hình thức này giảm được gánh nặng tổn thất cho nhiều người cùng gánh chịu. Nhưng nó vẫn bộc lộ nhiều hạn chế như: kêu gọi cho đủ người tham gia góp cổ phần sẽ mất nhiều thời gian, phải dàn xếp thỏa thuận chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi. * Hình thức thông qua tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp. Hình thức này có sự tham gia của bên trung gian, ngoài các thành viên có nhu cầu trực tiếp, còn có các Công ty, thương nhân làm dịch vụ (Người bảo hiểm).
Theo hình thức này, các nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng do một số nguyên nhân nhất định thì bên người bảo hiểm sẽ trả một khoản tiền nhằm bù đắp cho những thiệt hại đã xảy ra. Bút tích bản hợp đồng bảo hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại thành phố cảng Gênes - Italia, vào năm 1347. Năm 1424, cũng tại cảng Gênes, công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận tải đường biển và đường bộ được thành lập. Sau bảo hiểm hàng hải, tiếp đến là sự ra đời của các loại bảo hiểm khác: - Bảo hiểm hỏa hoạn: Vụ cháy lớn ở London - Anh vào năm 1666 đã thiêu hủy trên 13.000 tòa nhà, trong đó có 87 nhà thời là thảm họa lớn nhất từ trước cho đến thời điểm đó.
Nhu cầu về cơ chế bảo hiểm cho tài sản trước rủi ro cháy dẫn tới sự ra đời của các công ty bản hiểm trong lĩnh vực hỏa hoạn. Năm 1684, Công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên đã ra đời ở nước Anh, lấy tên là Friendly Society Fire Office, hoạt động trên nguyên tắc hỗ trợ, với hệ thống phí cố định, người được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra. Tiếp sau đó, nhiều công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời ở Anh như Amicable (1696), Sun (1710, Union (1714). Tại Pris, Pháp, văn phòng đại diện bảo hiểm mang tên “La Royal Incendie” được thành lập năm 1786 [47,tr.
TIEU LUAN MOI download :10skknchat@gmail.