Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng hiếm muộn và vô sinh tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng với tỷ lệ vô sinh trong độ tuổi sinh đẻ chiếm khoảng 7,7%, tương đương khoảng 700.000 cặp vợ chồng trên phạm vi cả nước. Nhu cầu có con mang dòng máu huyết thống là nguyện vọng chính đáng của các gia đình, nhưng trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP đã nghiêm cấm mọi hình thức mang thai hộ. Sự thiếu hụt hành lang pháp lý trong suốt hơn 12 năm áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã làm nảy sinh thị trường "đẻ thuê chui" phức tạp với chi phí bất hợp pháp dao động từ 50 triệu đồng đến 400 triệu đồng mỗi ca, kéo theo nhiều rủi ro nghiêm trọng về quyền nhân thân và quyền tài sản của đứa trẻ cũng như các bên tham gia.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự của tác giả Trần Thị Thu Hằng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán kiểm soát mang thai hộ bằng công cụ pháp luật. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất lý luận, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) và khảo sát thực tiễn áp dụng tại các cơ sở y tế chuyên khoa.

Phạm vi nghiên cứu bao quát các mốc thời gian phát triển pháp lý tại Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2018, đồng thời so sánh đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của 105 quốc gia trên thế giới. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc kiến tạo cơ sở lý luận vững chắc, bảo vệ quyền làm cha mẹ của hơn 700.000 cặp vợ chồng hiếm muộn và định hướng an toàn pháp lý cho hơn 7.000 ca thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện mỗi năm tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản trên toàn quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quyền con người và quyền sinh sản được ghi nhận trong các công ước quốc tế, khẳng định quyền có con và duy trì nòi giống là quyền cơ bản của cá nhân. Nghiên cứu kết hợp lý thuyết chức năng tái sản xuất con người của gia đình theo quan điểm triết học Mác - Lênin và tư tưởng của Ph.Ăng-ghen, nhấn mạnh rằng sự tồn tại và phát triển của xã hội gắn liền với hai phương diện sản xuất: tư liệu sinh hoạt và tái sản xuất ra chính bản thân con người. Đồng thời, lý thuyết kiểm soát xã hội bằng pháp luật được sử dụng làm nền tảng để phân tích cơ chế can thiệp của Nhà nước nhằm cân bằng giữa tự do ý chí cá nhân và bảo vệ trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Được định nghĩa tại Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là việc người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại mang thai giúp cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
  • Mang thai hộ vì mục đích thương mại: Được quy định tại Khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là hành vi mang thai để hưởng lợi ích kinh tế hoặc lợi ích vật chất khác, bản chất là một dạng hợp đồng thuê đẻ bị pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối.
  • Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF): Kỹ thuật y học hỗ trợ sinh sản cốt lõi lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh tạo phôi trước khi cấy vào tử cung người mang thai hộ.
  • Cơ chế kiểm soát pháp lý: Tổng thể các quy định về điều kiện chủ thể, trình tự y tế, hồ sơ tư pháp và chế tài xử lý nhằm bảo đảm việc mang thai hộ diễn ra thuần túy vì mục đích nhân đạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP), các báo cáo chuyên môn của Bộ Y tế, số liệu của Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TP. Hồ Chí Minh, cùng dữ liệu khảo sát quốc tế từ Hội thảo Tư pháp Quốc tế La Haye (HCCH năm 2012).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) đối với dữ liệu khảo sát pháp lý của 105 quốc gia trên thế giới (với 71 quốc gia có dữ liệu phản hồi cụ thể) và mẫu thực nghiệm tại 3 bệnh viện lớn đầu ngành gồm Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Vạn Hạnh và Bệnh viện An Sinh. Lý do chọn mẫu này là nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, nơi mỗi năm tiếp nhận điều trị cho khoảng 200 trường hợp người nước ngoài và hàng nghìn ca sinh sản trong nước.

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (normative legal analysis), phương pháp luật so sánh (comparative law) và phương pháp thống kê xã hội học. Việc kết hợp các phương pháp này cho phép đánh giá đa chiều tính tương thích giữa quy định thành văn và thực tiễn thi hành trong mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu rút ra ba phát hiện lớn phản ánh sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam:

Thứ nhất, tính cấp thiết xã hội và năng lực y tế vượt trội đã thúc đẩy việc hợp pháp hóa mang thai hộ. Tại Việt Nam, tỷ lệ vô sinh 7,7% tương ứng khoảng 700.000 cặp vợ chồng đang đối mặt với nguy cơ đổ vỡ hôn nhân do thiếu con cái. Ngành y tế trong nước sở hữu 15 trung tâm thụ tinh trong ống nghiệm đạt chuẩn, thực hiện thành công khoảng 7.000 ca mỗi năm và đã giúp hơn 10.000 trẻ em chào đời an toàn. Trình độ làm chủ các kỹ thuật hiện đại như nuôi noãn non (IVM), chẩn đoán di truyền tiền chuyển phôi (PGD) và trữ lạnh phôi của Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến nhưng chi phí chỉ bằng khoảng 20% đến 30% so với khu vực, thu hút 100 đến 150 ca ngoại quốc mỗi năm tại Bệnh viện An Sinh.

Thứ hai, mô hình kiểm soát mang thai hộ trên thế giới có sự phân hóa sâu sắc. Dữ liệu từ 71 quốc gia phản hồi khảo sát của HCCH cho thấy: 42% (30 quốc gia) nghiêm cấm hoàn toàn, 21% (15 quốc gia) cho phép và luật hóa cụ thể, 23% (13 quốc gia) có chủ trương cho phép, 14% (10 quốc gia) chưa đề cập rõ ràng, và có tới 24% (17 quốc gia) thực tế có triển khai kỹ thuật mang thai hộ nhưng 9 quốc gia trong số đó thiếu quy chế hướng dẫn chi tiết.

Thứ ba, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã thiết lập quy trình kiểm soát chặt chẽ với 12 nhóm điều kiện và giấy tờ pháp lý bắt buộc trong hồ sơ y tế. Các yêu cầu như người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng, đã từng sinh con, chỉ được mang thai hộ 1 lần duy nhất và phải có văn bản đồng ý của người chồng đã triệt tiêu kẽ hở thương mại hóa, chấm dứt tình trạng các đường dây đẻ thuê tự phát thu lợi bất chính từ 50 đến 400 triệu đồng mỗi ca.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự chuyển đổi lập pháp tại Việt Nam bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu thực tế của người dân và quy định ngăn cấm cứng nhắc trước đây. Nếu tiếp tục cấm đoán, các cặp vợ chồng sẽ tìm đến thị trường đen hoặc ra nước ngoài điều trị, dẫn đến tình trạng mất an toàn sức khỏe và phát sinh tranh chấp phức tạp về xác định cha, mẹ, con.

So sánh với quốc tế, Việt Nam đã lựa chọn mô hình trung gian tiến bộ, vừa không cấm đoán cực đoan như Pháp (Đạo luật số 94-653 năm 1994) hay tỉnh bang Quebec của Canada (Điều 541 Bộ luật Dân sự năm 1991 tuyên bố mọi thỏa thuận mang thai hộ đều vô giá trị), vừa không thả nổi thương mại hóa như một số bang của Hoa Kỳ.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được tổng hợp trực quan qua Bảng so sánh mô hình lập pháp giữa 4 nhóm quốc gia theo thống kê của HCCH năm 2012 và Biểu đồ cơ cấu người bệnh điều trị hỗ trợ sinh sản tại 3 bệnh viện chuyên khoa tuyến đầu, làm rõ xu hướng chuyển dịch tích cực từ ngăn cấm tuyệt đối sang kiểm soát có điều kiện. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu khẳng định tính ưu việt của chính sách nhân đạo, bảo đảm quyền trẻ em sinh ra được xác định rõ ràng huyết thống và nhân thân ngay từ thời điểm thụ thai.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao hiệu lực kiểm soát mang thai hộ trong giai đoạn tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện văn bản dưới luật và đơn giản hóa thủ tục thẩm định hồ sơ: Rà soát, chuẩn hóa 12 biểu mẫu trong quy trình nộp hồ sơ mang thai hộ theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, rút ngắn thời hạn thẩm định y tế - tư pháp từ 60 ngày xuống tối đa 30 ngày. Đơn vị chủ trì thực hiện là Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tư pháp, hoàn thành lộ trình trong giai đoạn 2019 - 2021.
  2. Mở rộng mạng lưới cơ sở y tế đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật mang thai hộ: Nâng quy mô từ 3 bệnh viện được cấp phép ban đầu lên ít nhất 10 trung tâm y tế chuyên sâu tại các khu vực Bắc, Trung, Nam đáp ứng tiêu chuẩn phòng Lab và trình độ bác sĩ sản khoa. Chỉ tiêu này do Bộ Y tế thẩm định và triển khai đến năm 2023.
  3. Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông về hỗ trợ sinh sản: Số hóa 100% hồ sơ thông tin của các bên tham gia mang thai hộ và người hiến tinh trùng, noãn để quản lý bằng mã định danh cá nhân, đảm bảo mục tiêu kiểm soát chính xác người nhận mang thai hộ chỉ thực hiện duy nhất 1 lần trong đời. Cơ quan thực hiện gồm Bộ Tư pháp, Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân cấp xã, duy trì định kỳ hàng năm.
  4. Bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính và hình sự: Tăng mức xử phạt vi phạm hành chính lên khung 50 - 100 triệu đồng đối với hành vi môi giới mang thai hộ trái phép, đồng thời kiến nghị sửa đổi Bộ luật Hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức môi giới mang thai hộ vì mục đích thương mại. Mục tiêu do Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao phối hợp hoàn thiện trong kỳ họp xây dựng luật giai đoạn 2020 - 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách (Bộ Tư pháp, Bộ Y tế, Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội): Tiếp cận nguồn luận cứ khoa học và số liệu đối sánh từ 105 quốc gia để phục vụ công tác rà soát, đánh giá tác động chính sách và sửa đổi các đạo luật liên quan đến quyền gia đình, sinh sản.
  2. Thẩm phán, luật sư, công chứng viên và cán bộ tư pháp - hộ tịch: Sử dụng luận văn như cẩm nang nghiệp vụ để giải quyết tranh chấp dân sự về xác định quan hệ cha mẹ con, thẩm định tính hợp pháp của hợp đồng thỏa thuận mang thai hộ và đăng ký hộ tịch cho trẻ em sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
  3. Ban lãnh đạo bệnh viện, bác sĩ sản khoa và chuyên viên phôi học tại 15 trung tâm IVF: Nắm vững giới hạn pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp khi tiến hành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, thiết lập quy trình kiểm soát hồ sơ bệnh án chuẩn mực cho hơn 7.000 ca điều trị mỗi năm.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự: Khai thác khung lý thuyết về quyền nhân thân, phương pháp nghiên cứu xã hội học pháp luật và hệ thống tài liệu tham khảo phong phú để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền sinh sản.

Câu hỏi thường gặp

Pháp luật Việt Nam hiện nay cho phép những hình thức mang thai hộ nào? Pháp luật Việt Nam chỉ cho phép duy nhất hình thức mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Mọi hành vi mang thai hộ vì mục đích thương mại, đẻ thuê nhận tiền thù lao hoặc trục lợi vật chất đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật hiện hành.

Cặp vợ chồng cần đáp ứng điều kiện gì để được nhờ mang thai hộ? Theo Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cặp vợ chồng phải có xác nhận y tế của cơ sở được phép thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, chưa có con chung và đã được tư vấn đầy đủ về y tế, pháp lý, tâm lý.

Người nhận mang thai hộ phải thỏa mãn những tiêu chuẩn bắt buộc nào? Người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ, đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần duy nhất. Trường hợp người phụ nữ đã kết hôn thì bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng cùng chứng nhận đủ điều kiện sức khỏe.

Con sinh ra từ việc mang thai hộ được xác định quan hệ cha mẹ như thế nào? Điều 94 và Điều 97 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khẳng định đứa trẻ sinh ra từ kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm thụ thai. Bên mang thai hộ không có quyền và nghĩa vụ cha mẹ đối với đứa trẻ sau khi sinh.

Năng lực y tế và chi phí điều trị hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam hiện nay ra sao? Việt Nam hiện có 15 trung tâm hỗ trợ sinh sản hiện đại, thực hiện thành công khoảng 7.000 ca thụ tinh trong ống nghiệm mỗi năm với tỷ lệ thành công tương đương thế giới. Chi phí kỹ thuật tại Việt Nam chỉ bằng 20% đến 30% so với nước ngoài, thu hút khoảng 200 ca điều trị quốc tế mỗi năm tại các bệnh viện lớn.

Kết luận

  • Công trình khẳng định tính đúng đắn và nhân văn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khi chuyển đổi từ cơ chế nghiêm cấm sang cơ chế kiểm soát mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  • Luận văn phân tích toàn diện thực trạng vô sinh chiếm 7,7% (tương đương 700.000 cặp vợ chồng) và chứng minh vai trò của pháp luật trong việc hiện thực hóa quyền làm cha mẹ chính đáng.
  • Hệ thống hóa bộ tiêu chuẩn 12 điều kiện trong hồ sơ y tế - pháp lý, tạo rào cản vững chắc ngăn chặn các đường dây thương mại hóa mang thai hộ trị giá 50 - 400 triệu đồng.
  • Phản ánh thực tiễn nội lực y học Việt Nam với 15 trung tâm IVF thực hiện 7.000 ca mỗi năm, đưa hơn 10.000 trẻ em chào đời an toàn với chi phí hợp lý.
  • Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam phân tích có hệ thống lý luận và thực tiễn kiểm soát mang thai hộ sau mốc hiệu lực ngày 01/01/2015.

Về lộ trình tiếp theo, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng số hóa cơ sở dữ liệu định danh liên thông trong giai đoạn 2020 - 2025 nhằm tối ưu hóa công tác quản lý Nhà nước. Độc giả, nhà nghiên cứu và đội ngũ cán bộ tư pháp - y tế được khuyến khích tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng sâu rộng các kết quả của luận văn vào hoạt động lập pháp và thực thi nghiệp vụ thực tế.