Luận án về chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam

Luận văn phân tích Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam: Luận án và phân tích, vận dụng lý thuyết vững chắc, đề xuất giải pháp sáng tạo cho

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

215
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1. Luận án, luận văn

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chế định mang thai hộ

Chế định mang thai hộ (MTH) theo pháp luật Việt Nam đã trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại. MTH không chỉ là một phương thức sinh sản mà còn liên quan đến nhiều khía cạnh pháp lý, đạo đức và xã hội. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã chính thức ghi nhận và cho phép thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ), mở ra cơ hội cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn. Tuy nhiên, việc thực hiện MTH vẫn gặp nhiều thách thức và rào cản pháp lý. Điều này đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc về các quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến MTH.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của mang thai hộ

MTH được hiểu là việc một người phụ nữ mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng khác. Đặc điểm của MTH bao gồm sự đồng thuận giữa các bên liên quan, việc thực hiện thông qua hợp đồng mang thai hộ và sự bảo vệ quyền lợi của các bên. Quyền lợi của bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai cần được quy định rõ ràng để tránh những tranh chấp pháp lý. Việc xác định rõ ràng các khái niệm và đặc điểm này là rất quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý cho MTH tại Việt Nam.

II. Phân tích pháp lý về mang thai hộ

Phân tích pháp lý về MTH tại Việt Nam cho thấy sự phát triển của các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này. Nghị định số 10/2015/NĐ-CP đã quy định rõ về các điều kiện và quy trình thực hiện MTH. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều cặp vợ chồng vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền lợi của mình. Trách nhiệm pháp lý của các bên trong hợp đồng MTH cũng cần được làm rõ để bảo vệ quyền lợi của trẻ em sinh ra từ MTH. Việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng là cần thiết để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của chế định này.

2.1. Quy định pháp luật về mang thai hộ

Các quy định pháp luật về MTH tại Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã tạo ra khung pháp lý cho MTH, tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong việc thực thi. Các quy định về quy trình mang thai hộ cần được cụ thể hóa hơn nữa để đảm bảo tính minh bạch và công bằng cho tất cả các bên. Việc nghiên cứu và phân tích các quy định này sẽ giúp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về MTH.

III. Thực trạng và thách thức trong thực hiện mang thai hộ

Thực trạng thực hiện MTH tại Việt Nam cho thấy nhiều cặp vợ chồng vẫn phải tìm đến các hình thức MTH phi pháp do những rào cản trong quy định pháp luật. Đào luật về mang thai hộ cần được xem xét để đảm bảo quyền lợi cho các bên và bảo vệ trẻ em sinh ra từ MTH. Việc thực hiện MTH không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề xã hội, đòi hỏi sự quan tâm từ các cơ quan chức năng và xã hội. Các thách thức trong việc thực hiện MTH cần được giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.

3.1. Thực trạng pháp lý và thực tiễn thực hiện

Thực trạng pháp lý về MTH tại Việt Nam hiện nay cho thấy sự thiếu hụt trong việc thực thi các quy định pháp luật. Nhiều cặp vợ chồng vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong việc thực hiện quyền lợi của mình. Hợp đồng mang thai hộ cần được quy định rõ ràng hơn để tránh những tranh chấp phát sinh. Việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện MTH sẽ giúp đưa ra những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện.

IV. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ

Để hoàn thiện pháp luật về MTH, cần có những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cho MTH là rất cần thiết. Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác quản lý và giám sát để đảm bảo việc thực hiện MTH diễn ra đúng quy định. Đồng thời, cần có các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức của xã hội về MTH và quyền lợi của các bên liên quan.

4.1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật

Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về MTH cần tập trung vào việc cụ thể hóa các quy định hiện hành, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn. Cần có các quy định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý của các bên trong hợp đồng MTH, cũng như các điều kiện cần thiết để thực hiện MTH. Việc này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của trẻ em sinh ra từ MTH và đảm bảo tính nhân văn trong chính sách pháp luật của Nhà nước.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, tác giả đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề MTH. Trong đó, các vấn đề về lý luận chung về MTH được đề cập như sự ra đời của chế định MTH; Một số khái niệm được phân tích như MTHVMĐNĐ, MTHVMĐTM. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến cơ sở của việc ban hành các quy định của pháp luật về MTHVMĐNĐ; phân tích quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về MTH. Chương 2, tác giả tập trung phân tích nội dung quy định về MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam hiện hành.

Chương 3, tác giả tập trung giải quyết vấn đề thực trạng MTH tại Việt Nam, khả năng áp dụng quy định MTHVMĐNĐ và một số kiến nghị. * Luận văn thạc sĩ Luật học của Đỗ Thùy Dương (2016) về “Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật TTTON theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Trong đó, vấn đề MTH được phân tích đánh giá với tư cách là một trong những biện pháp sinh con áp dụng kỹ thuật thực hiện này.

Do đó, tác giả nghiên cứu đề cập vấn đề MTH trong phạm vi khá hẹp, chủ yếu phân tích về các điều kiện thực hiện như chủ thể thực hiện MTH, những bất cập hạn chế về vấn đề MTHVMĐNĐ trong thực tiễn áp dụng pháp luật, chẳng hạn tại trang số 62, tác giả cho rằng việc xác định đối tượng chủ thể được MTH là người thân thích trong Nghị định số 10/2015/NĐ - CP và Luật HN&GĐ năm 2014 là không thống nhất và gây khó hiểu nên cần thống nhất về đối tượng chủ thể để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật. * Luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Ngọc Huy (2017) về “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 11 Tác giả tiếp cận vấn đề MTHVMĐNĐ dưới góc độ là một trong những trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trên cơ sở đó tác giả nghiên cứu nội dung này tại các tiểu mục 1.5 về điều kiện áp dụng kỹ thuật MTHVMĐNĐ; Tiểu mục 2.2 về xác định quan hệ cha, mẹ, con.

Trong đó, quan điểm được nhấn mạnh là pháp luật hiện hành cần xác định cụ thể thủ tục xác định quan hệ cha mẹ con trong trường hợp MTHVMĐNĐ như người có quyền yêu cầu, chứng cứ, chứng minh.Bởi vì, đây là trường hợp sinh con mang tính chất đặc biệt nên cần có những hướng dẫn cụ thể về các loại giấy tờ cần thiết để làm căn cứ trong việc chứng minh mối quan hệ cha mẹ con trong trường hợp có tranh chấp. Bài viết trên tạp chí * Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Cừ về “Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 6/2016, Tr. Trong phạm vi bài viết này tác giả đã phân tích một số quan điểm về MTH, sự cần thiết phải cho phép MTHVMĐNĐ tại Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở phân tích, đánh giá, tác giả cũng đưa ra những nhận định về nội dung quy định của pháp luật về MTHVMĐNĐ như tác giả đề cập đến khái niệm, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên nhờ mang thai và nhận mang thai, hệ quả của việc MTH.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về chế định MTHVMĐNĐ. Bên cạnh đó, trong phạm vi của bài viết, tác giả cũng đưa ra quan điểm đánh giá về chế định MTH tiêu biểu là tại trang 11, tác giả đưa ra các cách hiểu khác nhau về MTH trên thực tế. Trong đó, cách hiểu thứ nhất định nghĩa MTH là phương pháp hỗ trợ sinh sản áp dụng khi người vợ không thể mang thai và sinh con. Cách hiểu thứ hai cho rằng, MTH là việc người đàn ông (người chồng) có quan hệ sinh lý trực tiếp với người MTH và đứa trẻ được sinh ra có quan hệ huyết thống với người phụ nữ mang thai và sinh ra nó.

Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những phân tích đánh giá về các điều kiện MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam như điều kiện đối với bên nhờ mang thai, bên nhận mang thai, các vấn đề về quyền và nghĩa vụ.Từ đó đưa ra các nhận xét về quy định của của pháp luật về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng. * Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan về “Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh”, Tạp chí Luật học số 4/2015, Trường Đại học Luật Hà Nội,Tr. 12 Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả dựa trên cơ sở nghiên cứu về điều kiện MTH (điều kiện đối với bên nhờ MTH, bên MTH và những chủ thể có liên quan); quyền và nghĩa vụ của người nhờ MTH, bên MTH; hệ quả pháp lý của việc MTH. Trong từng nội dung nghiên cứu, tác giả đánh giá, bình luận các quy định của pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong việc MTH.

* Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan về “Vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con và mang thai hộ theo dự thảo Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5 (266) – 2014, Tr. Bài viết thể hiện những đánh giá của tác giả về các vấn đề liên quan đến kết cấu và nội dung của các điều luật về xác định quan hệ cha, mẹ, con và MTH trong Dự thảo Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, tác giả cho rằng các thuật ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật cần có sự thống nhất như thuật ngữ “xác định cha, mẹ, con” và “nhận cha, mẹ, con”; các quy định về quyền và nghĩa vụ của bên nhờ MTH và MTH cần quy định đảm bảo tính khoa học hơn như chỉ nên quy định quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể và đứa trẻ được sinh ra chứ không nên quy định về các chính sách an sinh xã hội vì các vấn đề về an sinh xã hội sẽ do văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành giải quyết. Điều này sẽ đảm bảo tính phù hợp và logic hơn.

* Bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Hợi, Nguyễn Thanh Tùng có tiêu đề “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chỉ định của bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm – mang thai hộ tại Bệnh viện Trung ương”, Tạp chí Y – Dược học quân sự, số 3/2017, Tr. Bài viết là kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả dựa trên khảo sát thực tế về các trường hợp MTH được thực hiện tại Bệnh viện Trung ương. Mặc dù các luận điểm đưa ra được đánh giá chủ yếu dựa trên các khảo sát về mặt y học nhưng trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã chỉ ra những kết quả vô cùng có ý nghĩa về mặt thực tiễn như tỉ lệ thực hiện MTH do bệnh của người mẹ, độ tuổi trung bình thực hiện MTH của người được nhờ mang thai, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác như số con đã từng sinh; tình trạng hôn nhân, chỉ số BMI của người nhờ MTH và người MTH 13 cũng được nhóm tác giả phân tích khá cụ thể và chi tiết. Đây là cơ sở để tham chiếu, điều chỉnh các quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tiễn áp dụng.

* Bài viết của tác giả Huỳnh Thị Trúc Giang về “Vài suy nghĩ về quy định mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 40/2015, Tr. Trong bài viết này, tác giả chỉ ra một số vấn đề như sau: Thứ nhất, về mục đích của MTHVMĐNĐ. Tác giả cho rằng rất khó để phân định tính chất “nhân đạo” và “thương mại” trong việc thực hiện MTH trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Bởi lẽ, quá trình thực hiện MTH không có cơ chế để kiểm soát nếu các bên có thỏa thuận ngầm trong quá trình mang thai và sinh con.

Theo đó, bên nhờ MTH sẽ chu cấp các khoản tiền lớn với danh nghĩa để bồi dưỡng sức khỏe và trang trải chi phí cho người được nhờ MTH trong thời gian họ mang thai và sinh con. Thứ hai, tác giả đề cập đến một vài quy định về điều kiện MTH đối với người nhờ mang thai như điều kiện về việc xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền xác định người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh không thể sinh con được ngay cả khi họ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Quan điểm của tác giả là trong thực tiễn áp dụng cũng gặp phải một số vướng mắc như làm cách nào để có thể kiểm chứng việc vợ chồng đang không có con chung trong trường hợp vợ chồng không cùng thường trú tại một nơi; Trình độ chuyên môn của tư vấn viên được quy định như thế nào. * Bài viết “Xác định quan hệ cha mẹ, con khi có sự vi phạm pháp luật về mang thai hộ và việc xử lý hậu quả” của tác giả Ngô Thị Anh Vân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (341) T7/2017, Tr. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những khía cạnh pháp lý trong việc xác định quan hệ cha mẹ, con khi có sự vi phạm pháp luật về MTH và việc xử lý hậu quả.

Cụ thể, bài viết chỉ ra những điểm nổi bật sau: Thứ nhất, về việc xác định quan hệ cha mẹ, con trong trường hợp có sự vi phạm điều kiện pháp luật về MTH. Tác giả cho rằng đối với việc MTHVMĐNĐ nhưng có sự vi phạm về điều kiện đồng nghĩa với thỏa thuận giữa các bên không được ghi nhận về mặt pháp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp đứa trẻ đã được sinh ra thì việc xác định 14 quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này được thực hiện như thế nào. Điều này dẫn tới hệ quả là sự bất hợp lý trong việc xác định cha, mẹ cho đứa trẻ.

Thứ hai, về việc xác định quan hệ cha mẹ, con khi người nhờ MTH từ chối nhận con. Trên thực tế, các trường hợp MTHVMĐNĐ vẫn có thể xảy ra khả năng bên nhờ MTH từ chối nhận con vì lí do đứa trẻ được sinh ra mắc các khiếm khuyết về thể lực. Việc từ chối nhận con vì lý do thể chất của trẻ hoàn toàn đi ngược lại với tính chất “nhân đạo” của mối quan hệ. Pháp luật HN&GĐ đề cập một cách chung nhất rằng: “bên nhờ MTH không được từ chối nhận con”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý liên quan đến mang thai hộ tại Việt Nam. Tác giả phân tích các khía cạnh pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình mang thai hộ, đồng thời chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về chế định mang thai hộ mà còn mở ra những vấn đề pháp lý liên quan, từ đó nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong giao dịch này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong các giao dịch liên quan đến đất đai, và Nghiên cứu luận văn thạc sĩ: Yếu tố thúc đẩy học tiếng Anh pháp luật tại Đại học Luật Hà Nội, giúp bạn hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến việc học và áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn và kiến thức bổ ích cho bạn trong lĩnh vực pháp luật.