Tổng quan luận án
Chế định mang thai hộ là một nội dung pháp lý phức tạp, gắn liền với quyền nhân thân, chức năng tái sản xuất con người của gia đình và trật tự quản lý xã hội. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, nhiều yếu tố khách quan như môi trường, lối sống và an toàn thực phẩm đã làm gia tăng tình trạng vô sinh, hiếm muộn. Thống kê dẫn chiếu trong văn bản cho thấy Việt Nam có tỷ lệ vô sinh chiếm khoảng 7,7%, tương đương khoảng 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn. Về mặt truyền thống văn hóa Á Đông, nhu cầu sinh con duy trì nòi giống chịu sự chi phối nặng nề của quan niệm "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại". Trước năm 2015, pháp luật Việt Nam (cụ thể là Điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ-CP) nghiêm cấm hoàn toàn hành vi mang thai hộ. Rào cản pháp lý này dẫn tới tình trạng xuất hiện các "hợp đồng đẻ thuê" bất hợp pháp hoặc các cặp vợ chồng tìm sang các quốc gia cho phép mang thai hộ như Thái Lan, Ấn Độ, làm phát sinh nhiều rủi ro về sức khỏe, tranh chấp quyền nuôi dưỡng và tư cách nhân thân của trẻ sơ sinh khi trở về nước, đặc biệt trong các trường hợp trẻ sinh ra mắc dị tật bẩm sinh hoặc hội chứng Down.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) đánh dấu bước chuyển biến quan trọng khi lần đầu tiên cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Tuy nhiên, việc triển khai quy định này trong thực tiễn bộc lộ nhiều rào cản do các điều kiện pháp lý khắt khe, nguy cơ biến tướng sang mang thai hộ vì mục đích thương mại và sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật liên ngành. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: trước đây chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện, độc lập và có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam, kết hợp đầy đủ cả phương diện lý luận, phân tích luật thực định và đánh giá dữ liệu thực tiễn thi hành.
Mục tiêu chung của luận án là đánh giá toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận về chế định mang thai hộ, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về mang thai hộ nói chung, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trên phương diện bảo đảm tính nhân đạo và bảo vệ quyền con người; làm rõ nội hàm chế định mang thai hộ.
- Nghiên cứu lịch sử phát triển pháp luật về mang thai hộ tại Việt Nam và trên thế giới; phân tích quan điểm lập pháp của các nhóm quốc gia điển hình và các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và đối chiếu với pháp luật một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ tại Việt Nam, chỉ ra các thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của những vướng mắc phát sinh.
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định mang thai hộ.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xây dựng thành 6 nhóm cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của mang thai hộ và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dưới góc độ lý luận được hiểu như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 1: Các khái niệm hiện nay cần được chuẩn hóa để phản ánh đúng bản chất quan hệ pháp luật, khắc phục sự chồng chéo giữa khái niệm phôi và thai; đồng thời cần bổ sung đặc điểm tính nhân đạo tiếp cận từ quyền con người bên cạnh các đặc điểm kỹ thuật, tự nguyện, phi thương mại.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Các yếu tố nào tác động tới việc pháp luật điều chỉnh về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo?
Giả thuyết nghiên cứu 2: Quy định pháp luật chịu sự tác động đồng thời của yếu tố phong tục, tâm lý đạo đức truyền thống; nhu cầu bảo vệ hạnh phúc gia đình; điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường; và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền con người và trật tự xã hội.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Sự phát triển khoa học và pháp luật về mang thai hộ nói chung và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nói riêng ở Việt Nam và trên thế giới như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 3: Lịch sử mang thai hộ trên thế giới có tiến trình lâu dài với các mô hình lập pháp khác nhau; tại Việt Nam, đây là vấn đề mới, quá trình điều chỉnh pháp lý chuyển từ cấm đoán sang cho phép có điều kiện phản ánh sự thay đổi nhận thức xã hội.
- Câu hỏi nghiên cứu 4: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 4: Điều kiện thực hiện theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quá khắt khe, thiếu tương thích liên ngành (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Bảo hiểm xã hội); cơ chế kiểm soát thỏa thuận, giải quyết tranh chấp và chế tài xử lý vi phạm còn nhiều bất cập.
- Câu hỏi nghiên cứu 5: Thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam hiện nay như thế nào và nguyên nhân của những hạn chế?
Giả thuyết nghiên cứu 5: Hoạt động thực thi tại các cơ sở y tế gặp trở ngại trong việc chứng minh mối quan hệ thân thích, xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung; việc giải quyết tranh chấp quyền nuôi dưỡng khi trẻ dị tật còn lúng túng.
- Câu hỏi nghiên cứu 6: Giải pháp nào được đặt ra nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo?
Giả thuyết nghiên cứu 6: Cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp về hoàn thiện lý luận, sửa đổi pháp luật thực định, tháo gỡ khó khăn trong khâu áp dụng pháp luật và các biện pháp xã hội hỗ trợ.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ; quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh về mang thai hộ (trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn); pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; cùng thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các vụ việc cụ thể.
Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong hệ thống pháp luật nội dung của Việt Nam; ít chú trọng đến thủ tục tố tụng tư pháp; giới hạn phạm vi đối với các trường hợp mang thai hộ không có yếu tố nước ngoài để phù hợp với mã ngành đào tạo.
- Về không gian và thời gian: Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành các nhóm công trình trong nước và quốc tế:
-
Nhóm luận án, luận văn học thuật:
- Trương Hồng Quang (2019), luận án tiến sĩ tại Học viện Khoa học xã hội, phân tích quyền của người đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính (LGBTI) theo pháp luật Việt Nam, phản ánh thực trạng nhóm này tìm đến dịch vụ mang thai hộ bất hợp pháp do pháp luật chưa cho phép.
- Bùi Quỳnh Hoa (2014), luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, nghiên cứu khái quát lý luận, so sánh pháp luật quốc tế và xu hướng điều chỉnh của Việt Nam trước thềm ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Phạm Thị Hương Giang (2015), luận văn thạc sĩ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, phân tích các điều khoản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khả năng áp dụng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
- Đỗ Thùy Dương (2016), luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, tại trang 62 đã chỉ ra điểm bất cập khi xác định người thân thích giữa Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Vũ Ngọc Huy (2017), luận văn thạc sĩ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, tiếp cận điều kiện kỹ thuật mang thai hộ và thủ tục xác định quan hệ cha, mẹ, con khi có tranh chấp.
-
Nhóm bài viết trên tạp chí chuyên ngành:
- Nguyễn Văn Cừ (2016), bài viết trên Tạp chí Luật học số 6/2016, phân tích hai cách hiểu về mang thai hộ và điều kiện pháp lý đối với bên nhờ và bên nhận mang thai hộ.
- Nguyễn Thị Lan với ba bài viết tiêu biểu: Tạp chí Luật học số 4/2015 (điều kiện, quyền và nghĩa vụ); Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 5/2014 (góp ý dự thảo luật về sự thống nhất thuật ngữ "xác định" và "nhận" cha mẹ con); Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2017 (mối liên hệ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp).
- Nguyễn Xuân Hợi và Nguyễn Thanh Tùng (2017), bài viết trên Tạp chí Y - Dược học quân sự số 3/2017, công bố số liệu khảo sát thực tế tại Bệnh viện Trung ương về độ tuổi trung bình, chỉ số BMI, tình trạng hôn nhân và tiền sử sinh con của các cặp phụ nữ tham gia mang thai hộ.
- Huỳnh Thị Trúc Giang (2015), Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ số 40/2015, cảnh báo nguy cơ thỏa thuận ngầm chu cấp tài chính và vướng mắc trong việc kiểm chứng điều kiện chưa có con chung khi vợ chồng không cùng hộ khẩu thường trú.
- Ngô Thị Anh Vân (2017), Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13/2017, phân tích rủi ro pháp lý khi bên nhờ mang thai từ chối nhận con do trẻ khuyết tật và hậu quả pháp lý khi thỏa thuận vi phạm điều kiện luật định.
- Lương Thị Thu Hà (2015), Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 221(II), kiến nghị mở rộng quyền nhờ mang thai hộ cho phụ nữ đơn thân và phê phán tính cứng nhắc của điều kiện "chưa có con chung" đối với các cặp vợ chồng có con bị bệnh hiểm nghèo hoặc dị tật.
- Các tác giả khác như Nguyên Anh (2015), Nguyễn Văn Lâm (2015, 2016), Hoàng Thị Hải Yến (2018), Nguyễn Huy Cường (2016), Trần Đức Thắng (2016), Nguyễn Quế Anh (2015), Đoàn Minh Trang (2014) làm rõ các khía cạnh về hạn chế quyền ly hôn của người chồng người mang thai hộ, kiểm soát cơ sở y tế và chế độ bảo hiểm xã hội thai sản.
-
Nhóm đề tài, kỷ yếu hội thảo và sách chuyên khảo:
- Đề tài cấp trường (2015) do Nguyễn Văn Cừ chủ nhiệm tại Trường Đại học Luật Hà Nội, nổi bật với chuyên đề của Bùi Minh Hồng về cơ sở lý luận sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Kỷ yếu hội thảo quốc tế tại Trường Đại học Luật - Đại học Huế (2018) với nghiên cứu của Nguyễn Văn Cừ về giải quyết tranh chấp mang thai hộ tại Việt Nam và kinh nghiệm đối với Nhật Bản.
- Kỷ yếu hội thảo khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội các năm 2013 và 2019, bao gồm bài viết của Bùi Thị Mừng (2013) về quyền làm mẹ; các bài viết của Ngô Thị Hường, Bùi Minh Hồng, Nguyễn Phương Lan (2019) về điều kiện, quyền nghĩa vụ và hệ quả sau khi đứa trẻ sinh ra.
- Sách chuyên khảo của Trương Hồng Quang (2014) do NXB Chính trị quốc gia ấn hành, đề xuất mở rộng quyền nhờ mang thai hộ cho người độc thân và người đồng tính, phân tích phương thức thụ tinh nhân tạo và cơ chế xác định quan hệ cha mẹ con đối với người chuyển giới.
-
Nhóm tài liệu nước ngoài:
- Luận án tiến sĩ của Lê Xuân Tùng (2016) tại Đại học Southampton (Vương quốc Anh), nghiên cứu các khía cạnh pháp lý và đạo đức của mang thai hộ tại Việt Nam dưới lăng kính quyền sinh sản và thị trường ngầm, so sánh với pháp luật Anh.
- Bài viết của Eva Steiner trên Tạp chí The International and Comparative Law Quarterly, luận giải nguyên nhân Cộng hòa Pháp nghiêm cấm mọi hình thức mang thai hộ xuất phát từ trật tự bản thể học về thiên chức làm mẹ và lo ngại thương mại hóa cơ thể con người.
- Bài viết của Elizabeth S. Scott trên Tạp chí Law and Contemporary Problems, phân tích Đạo luật Mang thai hộ bang Illinois năm 2004 (Gestational Surrogacy Act), vụ kiện Baby M tại Mỹ và ranh giới giữa chính sách hỗ trợ sinh sản với sự thương mại hóa quyền làm cha mẹ.
| Nhóm tài liệu |
Tác giả tiêu biểu |
Nội dung trọng tâm |
| Luận văn, luận án |
Trương Hồng Quang (2019), Bùi Quỳnh Hoa (2014), Phạm Thị Hương Giang (2015), Đỗ Thùy Dương (2016), Vũ Ngọc Huy (2017) |
Quyền sinh sản của nhóm LGBTI; cơ sở lý luận mang thai hộ; bất cập quy định người thân thích và thủ tục chứng minh quan hệ cha mẹ con. |
| Tạp chí chuyên ngành |
Nguyễn Văn Cừ (2016), Nguyễn Thị Lan (2014, 2015, 2017), Nguyễn Xuân Hợi & Nguyễn Thanh Tùng (2017), Huỳnh Thị Trúc Giang (2015), Ngô Thị Anh Vân (2017), Lương Thị Thu Hà (2015) |
Khái niệm mang thai hộ; số liệu lâm sàng người mang thai; thỏa thuận ngầm trục lợi; từ chối nhận con dị tật; điều kiện chưa có con chung; thủ tục tố tụng. |
| Kỷ yếu, đề tài, sách |
Nguyễn Văn Cừ (2015, 2018), Bùi Thị Mừng (2013), Ngô Thị Hường (2019), Trương Hồng Quang (2014) |
Điểm mới Luật HN&GĐ 2014; so sánh kinh nghiệm Nhật Bản; quyền làm mẹ; bảo vệ phụ nữ; mở rộng đối tượng nhờ mang thai hộ cho người chuyển giới, đơn thân. |
| Tài liệu nước ngoài |
Lê Xuân Tùng (2016), Eva Steiner, Elizabeth S. Scott |
Quyền sinh sản tại Việt Nam đối chiếu luật pháp Anh; lý do Pháp cấm mang thai hộ; Đạo luật bang Illinois (Hoa Kỳ) và vụ án Baby M. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận vấn đề ở phạm vi hẹp, phân tích cục bộ từng điều khoản luật thực định hoặc khảo sát y học đơn lẻ. Luận án tiến hành hệ thống hóa lý luận về chế định mang thai hộ với tư cách một chế định pháp lý độc lập, kết hợp đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam giai đoạn 2015-2019 dựa trên số liệu thực tế tại các cơ sở y tế được cấp phép, từ đó đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật toàn diện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng thế giới quan. Cụ thể, tác giả khai thác luận điểm của Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", xác định nhân tố quyết định trong lịch sử suy cho cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp, bao gồm sự sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và sự sản xuất ra bản thân con người (sự truyền nòi giống). Con người được nhìn nhận là một thực thể song trùng giữa phương diện sinh học bản năng và phương diện xã hội. Luận án cũng dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hôn nhân, gia đình và bảo đảm quyền con người được ghi nhận trong các bản Hiến pháp.
Về khái niệm và khung phân tích lý luận, tác giả tiến hành chuẩn hóa nội hàm các thuật ngữ chuyên ngành:
- Phân định khái niệm "phôi" và "thai": Luận án chỉ ra sự chồng chéo giữa khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT-BYT (quy định thai được tính từ tuần thứ 9 sau thụ tinh) và khoản 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP (quy định phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng nhưng không nêu rõ mốc thời gian). Tác giả đề xuất định nghĩa chuẩn hóa: "Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 08 tuần đầu sau khi thụ tinh" và "Thai là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai".
- Phân biệt phương thức kỹ thuật: Tác giả phân tích rõ sự khác biệt giữa thụ tinh nhân tạo (bơm tinh trùng vào buồng tử cung để tự thụ thai) và thụ tinh trong ống nghiệm (tạo phôi bên ngoài cơ thể rồi cấy vào tử cung). Định nghĩa mang thai hộ chuẩn xác phải là trường hợp người phụ nữ mang thai hộ bằng phôi của cặp vợ chồng nhờ mang thai (gestational surrogacy), không mang thai bằng noãn của chính mình để tránh làm phát sinh quan hệ huyết thống trực tiếp giữa người mang thai hộ và đứa trẻ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật: sử dụng để mổ xẻ nội dung các điều khoản trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự và các nghị định hướng dẫn.
- Phương pháp lịch sử: nghiên cứu tiến trình thay đổi chính sách lập pháp của Việt Nam từ cấm đoán (Nghị định số 12/2003/NĐ-CP) sang cho phép có điều kiện (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
- Phương pháp so sánh luật học: đối chiếu quan điểm lập pháp giữa ba nhóm quốc gia: nhóm cấm tuyệt đối (Cộng hòa Pháp), nhóm thừa nhận cả mục đích thương mại (Hoa Kỳ - bang Illinois), và nhóm chỉ thừa nhận mục đích nhân đạo (Việt Nam, Vương quốc Anh).
- Phương pháp xã hội học pháp luật và nghiên cứu tình huống điển hình: đánh giá các vụ việc tranh chấp trên thực tế về việc từ chối nhận con hoặc mang thai hộ chui.
- Phương pháp thống kê: thu thập và xử lý số liệu thực tế về các hồ sơ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại các cơ sở y tế được phép thực hiện kỹ thuật này ở Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và 2014, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, Thông tư số 12/2012/TT-BYT), các tài liệu pháp lý quốc tế, các công trình khoa học đã công bố và hồ sơ thực tiễn thi hành tại các bệnh viện trung ương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Chương này tập trung hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến chế định mang thai hộ ở trong và ngoài nước. Tác giả phân loại tư liệu thành 4 nhóm chính: nhóm luận án, luận văn; nhóm bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành; nhóm đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội thảo; và nhóm sách chuyên khảo, tài liệu nước ngoài. Thông qua việc phân tích quan điểm của các tác giả đi trước (như Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Lan, Bùi Quỳnh Hoa, Lê Xuân Tùng, Eva Steiner, Elizabeth S. Scott), chương 1 chỉ ra những kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết triệt để. Trên cơ sở đó, tác giả xác lập 6 câu hỏi nghiên cứu, 6 giả thuyết nghiên cứu và định hướng phương pháp luận nhằm giải quyết các khoảng trống học thuật trong các chương tiếp theo.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về chế định mang thai hộ
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của chế định mang thai hộ. Dưới góc độ sinh học và xã hội, mang thai là hành vi bản năng duy trì nòi giống và tái sản xuất sức lao động cho xã hội. Dưới góc độ pháp lý, tác giả chuẩn hóa khái niệm mang thai hộ, phân biệt mang thai hộ truyền thống với mang thai hộ mang tính mang phôi thai. Về đặc điểm của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, luận án phân tích tính kỹ thuật - y học, tính tự nguyện, tính phi thương mại, tính thỏa thuận và đặc biệt là đặc điểm tính nhân đạo tiếp cận từ quyền con người.
Bên cạnh đó, chương 2 phân tích các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, bao gồm: yếu tố tâm lý, phong tục tập quán truyền thống Á Đông; yếu tố kinh tế - xã hội và bảo vệ hạnh phúc gia đình; yếu tố thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về quyền con người. Chương này cũng phân tích lịch sử phát triển của kỹ thuật và pháp luật mang thai hộ trên thế giới, đồng thời so sánh quan điểm lập pháp của ba nhóm nước: nhóm cấm tuyệt đối (Pháp), nhóm cho phép thương mại (bang Illinois, Hoa Kỳ) và nhóm cho phép nhân đạo (Việt Nam, Anh).
Chương 3. Thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện pháp luật về chế định mang thai hộ
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2015-2019:
- Về điều kiện thực hiện: Phân tích các điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ (là vợ chồng hợp pháp, có xác nhận y tế về việc người vợ không thể mang thai, đang không có con chung, đã được tư vấn tâm lý, y tế, pháp lý) và bên mang thai hộ (là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng, đã từng sinh con, chỉ được mang thai hộ một lần, ở độ tuổi phù hợp) theo Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác giả chỉ ra các bất cập như sự thiếu thống nhất trong giải thích khái niệm người thân thích cùng hàng giữa luật và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, tính cứng nhắc của điều kiện chưa có con chung đối với trường hợp vô sinh thứ phát.
- Về thỏa thuận mang thai hộ và quyền nghĩa vụ của các bên: Đánh giá văn bản thỏa thuận theo Mẫu số 06 kèm theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, chỉ ra việc thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm dân sự khi vi phạm thỏa thuận hoặc khi thỏa thuận vô hiệu.
- Về thực tiễn thực hiện: Khảo sát số liệu tiếp nhận và xét duyệt hồ sơ mang thai hộ tại các cơ sở y tế được cấp phép trong giai đoạn 2015-2019; phân tích khó khăn của cơ quan y tế và chính quyền địa phương trong việc xác minh quan hệ thân thích, kiểm tra tình trạng con chung; chỉ ra thực trạng mang thai hộ chui và thỏa thuận chi trả tiền ngầm nhằm trục lợi thương mại; phân tích vướng mắc trong khâu đăng ký khai sinh và giải quyết tranh chấp tại Tòa án khi có sự việc bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con do trẻ sinh ra bị khuyết tật.
Chương 4. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế định mang thai hộ
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm khắc phục các tồn tại đã chỉ ra:
- Định hướng hoàn thiện: Phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn trọng và bảo vệ quyền con người; bảo đảm tính đồng bộ giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự và Luật Bảo hiểm xã hội; bảo đảm sự cân bằng giữa đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và phòng ngừa thương mại hóa.
- Giải pháp lập pháp cụ thể:
- Thống nhất định nghĩa pháp lý về "phôi", "thai" và "người thân thích cùng hàng" trong Luật Hôn nhân và gia đình và các nghị định hướng dẫn.
- Nới lỏng điều kiện "đang không có con chung" để cho phép các cặp vợ chồng có con chung nhưng con bị khuyết tật nặng, bệnh hiểm nghèo không có khả năng nhận thức hoặc vận động được quyền nhờ mang thai hộ.
- Bổ sung quy định bảo vệ trẻ em tức thời khi bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, xác định rõ trách nhiệm tài chính và nghĩa vụ nuôi dưỡng bắt buộc.
- Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ mang thai hộ; quy định rõ các chứng cứ chứng minh quan hệ cha mẹ con.
- Xây dựng chế tài hành chính và hình sự tương xứng nhằm xử lý nghiêm các hành vi môi giới mang thai hộ vì mục đích thương mại và thỏa thuận ngầm trục lợi.
- Giải pháp tổ chức thực hiện: Quy định rõ tiêu chuẩn và trách nhiệm của tư vấn viên y tế, tâm lý, pháp lý tại các cơ sở khám chữa bệnh; thiết lập cơ chế liên thông xác minh nhân thân giữa bệnh viện, cơ quan tư pháp - hộ tịch và chính quyền địa phương; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập những đóng góp mới về phương diện lý luận và thực tiễn:
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế của luận án:
- Về nội dung: Do giới hạn của mã ngành, luận án chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nội địa, không mở rộng nghiên cứu sâu các quan hệ mang thai hộ có yếu tố nước ngoài hoặc việc công dân Việt Nam thực hiện mang thai hộ tại nước ngoài. Luận án cũng chủ yếu đi sâu vào pháp luật nội dung mà chưa phân tích toàn diện các quy trình tố tụng tư pháp chi tiết.
- Về phạm vi khảo sát: Dữ liệu thực tiễn và số liệu thực thi được giới hạn thu thập và khảo sát trong mốc thời gian từ năm 2015 đến năm 2019.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu mở rộng sang lĩnh vực tư pháp quốc tế đối với các vụ việc mang thai hộ có yếu tố nước ngoài, xác định cha mẹ con và quốc tịch cho trẻ sơ sinh mang thai hộ xuyên biên giới.
- Nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật tố tụng dân sự và cơ chế thi hành án dân sự đối với các phán quyết giải quyết tranh chấp quyền nhận con, giao con và nghĩa vụ cấp dưỡng trong các trường hợp mang thai hộ có vi phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành luật: Luận án là tài liệu tham khảo học thuật hệ thống về chế định mang thai hộ, cung cấp cơ sở lý thuyết, lịch sử lập pháp và phương pháp luận so sánh luật học phục vụ học tập, nghiên cứu các môn học Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự và Quyền con người.
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo luật: Cung cấp nguồn học liệu chuyên sâu, tài liệu giảng dạy về các tình huống pháp lý mới phát sinh từ sự phát triển của kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và sự thích ứng của hệ thống pháp luật thực định.
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Luận cứ khoa học và các đề xuất sửa đổi trong luận án là nguồn thông tin hữu ích phục vụ quá trình rà soát, sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hoàn thiện Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và xây dựng các văn bản hướng dẫn liên ngành về bảo hiểm y tế, hộ tịch.
- Đối với cơ quan tư pháp và cơ sở y tế: Cung cấp góc nhìn thực tiễn giúp thẩm phán, chấp hành viên, cán bộ tư pháp - hộ tịch và y bác sĩ tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản nhận diện rủi ro pháp lý, hoàn thiện quy trình tư vấn và xét duyệt hồ sơ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam được luận án dẫn chứng là bao nhiêu và tạo ra sức ép gì đối với pháp luật?
Luận án dẫn số liệu thống kê (trích từ công bố của Cẩm Anh, năm 2019) cho thấy tỷ lệ vô sinh trong nước chiếm khoảng 7,7%, tương đương khoảng 1 triệu cặp vợ chồng hiếm muộn. Con số này, cùng với áp lực nối dõi tông đường theo truyền thống văn hóa Á Đông, tạo ra nhu cầu thực tế rất lớn về can thiệp hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có hành lang pháp lý điều chỉnh thay vì cấm đoán tuyệt đối như trước năm 2015.
2. Luận án đề xuất sửa đổi định nghĩa về "phôi" và "thai" như thế nào để khắc phục bất cập hiện hành?
Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa Thông tư số 12/2012/TT-BYT và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP khi định nghĩa phôi và thai. Luận án đề xuất chuẩn hóa: "Phôi là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong 08 tuần đầu sau khi thụ tinh" và "Thai là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai", làm cơ sở xác định chính xác thời điểm phát sinh các quan hệ pháp lý.
3. Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, điều kiện cơ bản đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ là gì?
Theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được luận án phân tích, bên nhờ mang thai hộ phải đáp ứng các điều kiện: là vợ chồng hợp pháp; có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; và đã được tư vấn đầy đủ về y tế, tâm lý, pháp lý.
4. Vì sao việc quy định người mang thai hộ phải là "người thân thích cùng hàng" lại gây vướng mắc trên thực tế?
Quy định này nhằm ngăn ngừa thương mại hóa, nhưng thực tế áp dụng gặp khó khăn vì khái niệm người thân thích cùng hàng giữa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP chưa có sự giải thích thống nhất; việc xác minh mối quan hệ họ hàng qua sổ hộ khẩu hoặc xác nhận của chính quyền địa phương rất phức tạp, thu hẹp cơ hội tìm người mang thai hộ hợp pháp và gián tiếp thúc đẩy việc thỏa thuận ngầm hoặc tìm đến thị trường mang thai hộ bất hợp pháp.
5. Luận án chỉ ra rủi ro pháp lý nào đối với đứa trẻ khi bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con?
Theo luật định, bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con kể cả khi đứa trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên, luận án phản ánh trong thực tế, nếu bên nhờ mang thai cố tình trốn tránh, việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án và thi hành án thường kéo dài, dẫn đến tình trạng đứa trẻ sơ sinh rơi vào khoảng trống pháp lý, thiếu người đứng ra chịu trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và thực hiện các quyền nhân thân cơ bản.
Kết luận
Luận án "Chế định mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam" là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ sở lý luận, luật thực định và thực tiễn áp dụng chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019. Tác giả đã chuẩn hóa các khái niệm pháp lý cốt lõi, phân tích kinh nghiệm quốc tế và làm rõ những hạn chế của Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên nền tảng đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm quyền sinh sản chính đáng của các cặp vợ chồng hiếm muộn, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm ngăn chặn các hành vi thương mại hóa và bảo vệ quyền lợi của người mang thai hộ và trẻ em.