Chương 1, tác giả đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề MTH. Trong đó, các vấn đề về lý luận chung về MTH được đề cập như sự ra đời của chế định MTH; Một số khái niệm được phân tích như MTHVMĐNĐ, MTHVMĐTM. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến cơ sở của việc ban hành các quy định của pháp luật về MTHVMĐNĐ; phân tích quy định của pháp luật một số quốc gia trên thế giới về MTH. Chương 2, tác giả tập trung phân tích nội dung quy định về MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
Chương 3, tác giả tập trung giải quyết vấn đề thực trạng MTH tại Việt Nam, khả năng áp dụng quy định MTHVMĐNĐ và một số kiến nghị. * Luận văn thạc sĩ Luật học của Đỗ Thùy Dương (2016) về “Sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật TTTON theo pháp luật Việt Nam hiện hành. Trong đó, vấn đề MTH được phân tích đánh giá với tư cách là một trong những biện pháp sinh con áp dụng kỹ thuật thực hiện này.
Do đó, tác giả nghiên cứu đề cập vấn đề MTH trong phạm vi khá hẹp, chủ yếu phân tích về các điều kiện thực hiện như chủ thể thực hiện MTH, những bất cập hạn chế về vấn đề MTHVMĐNĐ trong thực tiễn áp dụng pháp luật, chẳng hạn tại trang số 62, tác giả cho rằng việc xác định đối tượng chủ thể được MTH là người thân thích trong Nghị định số 10/2015/NĐ - CP và Luật HN&GĐ năm 2014 là không thống nhất và gây khó hiểu nên cần thống nhất về đối tượng chủ thể để tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng pháp luật. * Luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Ngọc Huy (2017) về “Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội. 11 Tác giả tiếp cận vấn đề MTHVMĐNĐ dưới góc độ là một trong những trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trên cơ sở đó tác giả nghiên cứu nội dung này tại các tiểu mục 1.5 về điều kiện áp dụng kỹ thuật MTHVMĐNĐ; Tiểu mục 2.2 về xác định quan hệ cha, mẹ, con.
Trong đó, quan điểm được nhấn mạnh là pháp luật hiện hành cần xác định cụ thể thủ tục xác định quan hệ cha mẹ con trong trường hợp MTHVMĐNĐ như người có quyền yêu cầu, chứng cứ, chứng minh.Bởi vì, đây là trường hợp sinh con mang tính chất đặc biệt nên cần có những hướng dẫn cụ thể về các loại giấy tờ cần thiết để làm căn cứ trong việc chứng minh mối quan hệ cha mẹ con trong trường hợp có tranh chấp. Bài viết trên tạp chí * Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Cừ về “Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 6/2016, Tr. Trong phạm vi bài viết này tác giả đã phân tích một số quan điểm về MTH, sự cần thiết phải cho phép MTHVMĐNĐ tại Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở phân tích, đánh giá, tác giả cũng đưa ra những nhận định về nội dung quy định của pháp luật về MTHVMĐNĐ như tác giả đề cập đến khái niệm, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên nhờ mang thai và nhận mang thai, hệ quả của việc MTH.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh về chế định MTHVMĐNĐ. Bên cạnh đó, trong phạm vi của bài viết, tác giả cũng đưa ra quan điểm đánh giá về chế định MTH tiêu biểu là tại trang 11, tác giả đưa ra các cách hiểu khác nhau về MTH trên thực tế. Trong đó, cách hiểu thứ nhất định nghĩa MTH là phương pháp hỗ trợ sinh sản áp dụng khi người vợ không thể mang thai và sinh con. Cách hiểu thứ hai cho rằng, MTH là việc người đàn ông (người chồng) có quan hệ sinh lý trực tiếp với người MTH và đứa trẻ được sinh ra có quan hệ huyết thống với người phụ nữ mang thai và sinh ra nó.
Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những phân tích đánh giá về các điều kiện MTHVMĐNĐ theo pháp luật Việt Nam như điều kiện đối với bên nhờ mang thai, bên nhận mang thai, các vấn đề về quyền và nghĩa vụ.Từ đó đưa ra các nhận xét về quy định của của pháp luật về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng. * Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan về “Mang thai hộ và những vấn đề phát sinh”, Tạp chí Luật học số 4/2015, Trường Đại học Luật Hà Nội,Tr. 12 Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả dựa trên cơ sở nghiên cứu về điều kiện MTH (điều kiện đối với bên nhờ MTH, bên MTH và những chủ thể có liên quan); quyền và nghĩa vụ của người nhờ MTH, bên MTH; hệ quả pháp lý của việc MTH. Trong từng nội dung nghiên cứu, tác giả đánh giá, bình luận các quy định của pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong việc MTH.
* Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Lan về “Vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con và mang thai hộ theo dự thảo Luật hôn nhân và gia đình sửa đổi”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 5 (266) – 2014, Tr. Bài viết thể hiện những đánh giá của tác giả về các vấn đề liên quan đến kết cấu và nội dung của các điều luật về xác định quan hệ cha, mẹ, con và MTH trong Dự thảo Luật HN&GĐ năm 2014. Theo đó, tác giả cho rằng các thuật ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật cần có sự thống nhất như thuật ngữ “xác định cha, mẹ, con” và “nhận cha, mẹ, con”; các quy định về quyền và nghĩa vụ của bên nhờ MTH và MTH cần quy định đảm bảo tính khoa học hơn như chỉ nên quy định quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể và đứa trẻ được sinh ra chứ không nên quy định về các chính sách an sinh xã hội vì các vấn đề về an sinh xã hội sẽ do văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành giải quyết. Điều này sẽ đảm bảo tính phù hợp và logic hơn.
* Bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Hợi, Nguyễn Thanh Tùng có tiêu đề “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và chỉ định của bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm – mang thai hộ tại Bệnh viện Trung ương”, Tạp chí Y – Dược học quân sự, số 3/2017, Tr. Bài viết là kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả dựa trên khảo sát thực tế về các trường hợp MTH được thực hiện tại Bệnh viện Trung ương. Mặc dù các luận điểm đưa ra được đánh giá chủ yếu dựa trên các khảo sát về mặt y học nhưng trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã chỉ ra những kết quả vô cùng có ý nghĩa về mặt thực tiễn như tỉ lệ thực hiện MTH do bệnh của người mẹ, độ tuổi trung bình thực hiện MTH của người được nhờ mang thai, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng khác như số con đã từng sinh; tình trạng hôn nhân, chỉ số BMI của người nhờ MTH và người MTH 13 cũng được nhóm tác giả phân tích khá cụ thể và chi tiết. Đây là cơ sở để tham chiếu, điều chỉnh các quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tiễn áp dụng.
* Bài viết của tác giả Huỳnh Thị Trúc Giang về “Vài suy nghĩ về quy định mang thai hộ trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 40/2015, Tr. Trong bài viết này, tác giả chỉ ra một số vấn đề như sau: Thứ nhất, về mục đích của MTHVMĐNĐ. Tác giả cho rằng rất khó để phân định tính chất “nhân đạo” và “thương mại” trong việc thực hiện MTH trong thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Bởi lẽ, quá trình thực hiện MTH không có cơ chế để kiểm soát nếu các bên có thỏa thuận ngầm trong quá trình mang thai và sinh con.
Theo đó, bên nhờ MTH sẽ chu cấp các khoản tiền lớn với danh nghĩa để bồi dưỡng sức khỏe và trang trải chi phí cho người được nhờ MTH trong thời gian họ mang thai và sinh con. Thứ hai, tác giả đề cập đến một vài quy định về điều kiện MTH đối với người nhờ mang thai như điều kiện về việc xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền xác định người mẹ trong cặp vợ chồng vô sinh không thể sinh con được ngay cả khi họ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; Quan điểm của tác giả là trong thực tiễn áp dụng cũng gặp phải một số vướng mắc như làm cách nào để có thể kiểm chứng việc vợ chồng đang không có con chung trong trường hợp vợ chồng không cùng thường trú tại một nơi; Trình độ chuyên môn của tư vấn viên được quy định như thế nào. * Bài viết “Xác định quan hệ cha mẹ, con khi có sự vi phạm pháp luật về mang thai hộ và việc xử lý hậu quả” của tác giả Ngô Thị Anh Vân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 13 (341) T7/2017, Tr. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những khía cạnh pháp lý trong việc xác định quan hệ cha mẹ, con khi có sự vi phạm pháp luật về MTH và việc xử lý hậu quả.
Cụ thể, bài viết chỉ ra những điểm nổi bật sau: Thứ nhất, về việc xác định quan hệ cha mẹ, con trong trường hợp có sự vi phạm điều kiện pháp luật về MTH. Tác giả cho rằng đối với việc MTHVMĐNĐ nhưng có sự vi phạm về điều kiện đồng nghĩa với thỏa thuận giữa các bên không được ghi nhận về mặt pháp lý. Tuy nhiên, trong trường hợp đứa trẻ đã được sinh ra thì việc xác định 14 quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này được thực hiện như thế nào. Điều này dẫn tới hệ quả là sự bất hợp lý trong việc xác định cha, mẹ cho đứa trẻ.
Thứ hai, về việc xác định quan hệ cha mẹ, con khi người nhờ MTH từ chối nhận con. Trên thực tế, các trường hợp MTHVMĐNĐ vẫn có thể xảy ra khả năng bên nhờ MTH từ chối nhận con vì lí do đứa trẻ được sinh ra mắc các khiếm khuyết về thể lực. Việc từ chối nhận con vì lý do thể chất của trẻ hoàn toàn đi ngược lại với tính chất “nhân đạo” của mối quan hệ. Pháp luật HN&GĐ đề cập một cách chung nhất rằng: “bên nhờ MTH không được từ chối nhận con”.