phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm bốn chương được kết cấu như sau: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1.1 Khái niệm, đặc điểm của mang thai hộ 1.1 Khái niệm mang thai hộ Mang thai là hiện tượng thuộc về yếu tố bản năng tự nhiên, có tính quyết định, ảnh hưởng đến sự sinh tồn, phát triển của mỗi giống loài. Theo văn hóa và mỗi vùng miền khác nhau, mang thai còn được còn có tên gọi khác nhau như có bầu, chửa, nghén,. Việc mang thai và sinh nở là việc làm có ý nghĩa nhằm duy trì nòi giống, gắn kết và giữ gìn hạnh phúc mỗi gia đình, bởi vì con cái là động lực để cha mẹ chúng làm việc tốt hơn, sống có trách nhiệm hơn, góp phần vào phồn vinh của xã hội. Đây là sự đảm bảo cho mối liên kết về mặt huyết thống của các cá nhân từ đó tạo cơ hội cho họ thực hiện các quyền cơ bản về dân sự, HN&GĐ của mỗi con người.
Xét về mặt sinh học, sự mang thai của con người là việc mang một hay nhiều con, được gọi là một bào thai hay phôi thai, bên trong tử cung của một phụ nữ. Trong một lần thai nghén, có thể có nhiều bào thai, như trong trường hợp sinh đôi hay sinh ba. Mang thai thường kéo dài trung bình 9 tháng 10 ngày được chia tương đối thành ba giai đoạn, tương ứng mỗi giai đoạn khoảng ba tháng. Như vậy, về phương diện sinh học, mang thai được hiểu là “khoảng thời gian mà người phụ nữ mang trong mình một hay nhiều bào thai sơ sinh.” Xét dưới khía cạnh pháp lý, tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 12/2012/TT- BYT ngày 15 tháng 07 năm 2012 về quy trình kỹ thuật của thụ tinh nhân tạo và TTTON khái niệm về thai đã được định nghĩa : “Thai là sản phẩm của quá trình thụ tinh được tính bắt đầu từ tuần thứ 09 sau thụ tinh cho đến khi sinh hoặc khi sảy thai”.
Định nghĩa “phôi” được đề cập tại khoản 5 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ – CP: “là sản phẩm kết hợp giữa noãn và tinh trùng”. Có thể hiểu từ tuần thứ 09 sau khi thụ tinh, phôi được coi là thai nhi. Giai đoạn này, các cấu trúc gần như phát triển đầy đủ nhưng chưa hoàn thiện. 8 Theo Từ điển Tiếng Việt, hộ nghĩa là “làm thay, giúp cho người khác” [29, tr 457].
Việc xác định các định nghĩa trên có ý nghĩa làm rõ trong việc đưa ra cách hiểu đúng về MTH. Hiểu một cách đơn giản, mang thai hộ là việc một người phụ nữ có thai nhằm thực hiện chức năng mang thai thay thế hoặc giúp cho một người khác. Mặt khác, theo cuốn Từ điển Pháp luật (Dictionary of Law) của Jonathan Law, Elizabeth A. The role of a woman (a surrogate mother) who is commissioned to bear a child by a married couple unable to have children themselves.
The pregnancy is usually initiated through artificial insemination of the surrogate mother by the husband, although sometimes the wife's eggs are used; in this case the surrogate has no genetic relationship to the child, being simply a host for the embryo. (MTH là vai trò của một người phụ nữ (một người mẹ thay thế), người được ủy quyền sinh con bởi một cặp vợ chồng không có khả năng sinh con. Việc mang thai thường được bắt đầu thông qua thụ tinh nhân tạo của người mẹ MTH bởi người chồng, mặc dù đôi khi trứng của người vợ được sử dụng; trong trường hợp này, người MTH không có mối quan hệ di truyền với đứa trẻ, chỉ đơn giản là vật chủ cho phôi). Hỗ trợ sinh sản là dùng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất được thực tại các cơ sở y tế chuyên khoa.
Các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản được áp dụng phổ biến như: thụ tinh nhân tạo-bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI), thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Bơm tinh trùng vào buồng tử cung là việc sử dụng một ống thông chuyên dụng để bơm trực tiếp tinh trùng đã qua lọc rửa (để lựa chọn ra những tinh trùng đáp ứng các yêu cầu về số lượng và chất lượng) vào buồng tử cung của người phụ nữ. Phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp mà trứng và tinh trùng được thụ tinh bên ngoài tử cung của người phụ nữ. Sau khi quá trình thụ tinh xảy ra, phôi (trứng đã thụ tinh) được cấy vào tử cung của người phụ nữ, nếu có thể làm tổ và bám vào thành tử cung thì quá trình thụ tinh thành công [37].
Như vậy, quan điểm được chỉ ra trong cách định nghĩa này có thể hiểu theo 9 hai cách: Một là, MTH là sự mang thai cho người khác mà trong đó phôi thai là sự kết hợp tinh trùng của người chồng và noãn của người MTH. Chính cách hiểu trên đây cũng dẫn đến những quan điểm khác nhau về MTH hiện nay. Ở Việt Nam, thuật ngữ MTH nhiều người còn gọi bằng các tên như “đẻ thuê”,“đẻ mướn”,“chửa hộ”.với các hình thức thực hiện khác nhau. Hai là, MTH cũng có thể là sự mang thai cho người khác mà trong đó phôi thai là sự kết hợp tinh trùng của người chồng và noãn của người vợ, phôi này sau khi được thụ tinh sẽ được cấy vào cơ thể của người MTH.
Theo tác giả, quan điểm thứ hai phù hợp với bản chất của MTH vì trong trường hợp này, người phụ nữ MTH đang mang thai cho người khác như vậy thai đó không phải là của người đang mang thai, không có mối liên hệ huyết thống với chính bản thân người MTH. Bởi lẽ, thứ nhất đứa trẻ được sinh ra trong trường hợp phôi thai là sự kết hợp tinh trùng của người chồng và noãn của người MTH, vì có quan hệ huyết thống với chính người mang thai và sinh ra nó nên đứa trẻ này thực chất là con của người phụ nữ mang thai. Thứ hai, việc thỏa thuận giao con sau khi sinh chính là đưa con của chính người mang thai cho người khác nuôi dưỡng, chứ không phải là việc người phụ nữ ấy chỉ mang thai “hộ” đứa con của người khác. Thuật ngữ “hộ” đã chỉ rõ bản chất của việc mang thai trong trường hợp này là không phải mang thai của mình, thai không thể có mối liên hệ huyết thống với người mang thai.
Người MTH chỉ mang giúp cho người khác nhằm mục đích sinh con cho họ vì người đó không thể tự mình mang thai và sinh con. Do đó, những quan điểm, suy nghĩ về việc MTH cũng giống như các trường hợp “đẻ thuê”; “chửa mướn”; Quan hệ tình dục trực tiếp hoặc thụ tinh nhân tạo với người đàn ông trong cặp vợ chồng có nhu cầu có con; Người MTH là người hiến trứng để kết hợp với tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng không thể sinh con để TTTON tạo phôi và cấy trở lại trong cơ thể người MTH nhằm mục đích sinh con. là hoàn toàn sai lệch. Từ những phân tích trên, dưới góc độ y học MTH được hiểu việc một người phụ nữ mang thai cho một cặp vợ chồng khác trên cơ sở lấy trứng (noãn) của người 10 vợ và tinh trùng của người chồng sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để kết hợp, phát triển thành phôi, phôi này được cấy trở lại dạ con của người phụ nữ mang thai hộ.
Về mặt sinh học, đứa trẻ do người phụ nữ mang thai hộ sinh ra sẽ mang gen của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ mà không có sự liên quan về mặt huyết thống giữa người phụ nữ mang thai và đứa trẻ [27]. Hay nói cách khác MTH là việc áp dụng biện pháp kĩ thuật lấy noãn không phải của người MTH và tinh trùng của người nhờ mang thai để TTTON sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ MTH để người này mang thai và sinh con cho bên nhờ MTH. MTH với tư cách là một sự kiện pháp lý, sự kiện sinh đẻ trong quá trình thực hiện kỹ thuật MTH là hành vi sinh con của người phụ nữ MTH nhưng hành vi này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế phát triển tự nhiên của một bào thai và đôi khi có thể không biểu thị theo ý chí của chủ thể. Vì vậy, sự kiện sinh đẻ trong trường hợp MTH được coi là sự biến pháp lý tương đối.
Sự biến này là cơ sở phát sinh các quan hệ pháp luật giữa bên nhờ MTH, bên MTH và đứa trẻ được sinh ra. Mặt khác, thông qua hành vi thỏa thuận, thực hiện kĩ thuật MTH, tư cách chủ thể được xác định. Đây là các hành vi pháp lý, là hình thức biểu thị ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Đồng thời, trên cơ sở xác lập hành vi này, các chủ thể sẽ có các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, với sự thỏa thuận và thực hiện của các bên cũng là cơ sở làm phát sinh hậu quả pháp lý như việc xác định quan hệ cha, mẹ, con sau khi đứa trẻ được sinh ra; quyền và nghĩa vụ của các bên đối với đứa trẻ; Quyền và nghĩa vụ của đứa trẻ đối với người được xác định là cha, mẹ của trẻ. Như vậy, với tư cách là một sự kiện pháp lý, MTH là căn cứ để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật giữa bên MTH với bên nhờ MTH; giữa bên MTH và bên nhờ MTH với đứa trẻ sinh ra, giữa các bên với cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật MTH. MTH với tư cách là một quan hệ pháp luật thì đây là một quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. MTH là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện việc mang thai và sinh con giúp cho người khác được các 11 quy phạm pháp luật điều chỉnh.
Thực tế cho thấy, nếu pháp luật không qui định về việc MTH thì quan hệ xã hội này vẫn xảy ra và tồn tại trên thực tế và dẫn đến hệ quả là rất khó kiểm soát. Do đó, chỉ khi pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội này thì các chủ thể mới có thể tham gia quan hệ này một cách hợp pháp, việc quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền đối với các hoạt động liên quan đến MTH trên thực tế cũng trở nên dễ dàng hơn.