Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo dự báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vô sinh và hiếm muộn là vấn đề sức khỏe nguy hiểm thứ ba của thế kỷ 21, chỉ đứng sau ung thư và bệnh tim mạch, với xu hướng ngày càng gia tăng tại các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Báo cáo của Bộ Y tế ghi nhận hiện có khoảng 7,7% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh sản bị vô sinh, tương đương hơn 1 triệu cặp vợ chồng gặp phải các vấn đề về vô sinh, hiếm muộn.

Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014 được ban hành, pháp luật Việt Nam theo Nghị định số 12/2003/NĐ-CP áp dụng chính sách nghiêm cấm tuyệt đối hành vi mang thai hộ (MTH) dưới mọi hình thức. Điều này dẫn đến thực trạng nhiều giao dịch MTH diễn ra dưới dạng "hợp đồng đẻ thuê" phi pháp hoặc người dân phải ra nước ngoài thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với chi phí tốn kém và rủi ro pháp lý cao. Luật HN&GĐ năm 2014 đã tạo bước chuyển biến quan trọng khi chuyển từ cấm toàn bộ sang "nghiêm cấm mang thai hộ vì mục đích thương mại", đồng thời chính thức thừa nhận và quy định chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ). Tuy nhiên, quá trình thực thi các quy định này trong thực tiễn từ năm 2015 đến năm 2020 bộc lộ nhiều điểm nghẽn, mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật và khoảng trống pháp lý cần được nghiên cứu, hoàn thiện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đánh giá toàn diện, mang tính hệ thống cơ sở lý luận về chế định MTH, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ các khái niệm, đặc điểm về chế định MTH, MTHVMĐNĐ và ý nghĩa của chế định này dưới nhiều góc độ.
  2. Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định MTH.
  3. Đánh giá thực tiễn thực hiện chế định MTH tại Việt Nam; chỉ ra những thuận lợi, hạn chế và nguyên nhân của những vướng mắc phát sinh.
  4. Đề xuất phương hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện chế định MTH.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm: các vấn đề lý luận về MTHVMĐNĐ; quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (chủ yếu là Luật HN&GĐ năm 2014 và các văn bản liên quan); thực tiễn thực hiện pháp luật về MTH thông qua các vụ việc cụ thể.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Khóa luận tập trung vào các quy định pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ MTHVMĐNĐ không có yếu tố nước ngoài, không đi sâu vào pháp luật hình thức về thủ tục tố tụng.
  • Về không gian và thời gian: Khóa luận nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về MTHVMĐNĐ tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân, gia đình và quyền con người.

Khung pháp lý và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 21 về quyền bí mật đời tư, bí mật cá nhân và gia đình).
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các Điều 3, Điều 51, và từ Điều 94 đến Điều 100).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 278 về đối tượng của hợp đồng, Điều 651 về người thừa kế theo pháp luật).
  • Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Điều 31, Điều 35, Điều 39), Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Cư trú năm 2013, Luật Nuôi con nuôi năm 2010.
  • Các văn bản quy định chi tiết: Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Nghị định số 98/2016/NĐ-CP, Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, Nghị định số 31/2014/NĐ-CP, Nghị định số 12/2003/NĐ-CP.
  • Các văn bản chuyên ngành y tế: Thông tư số 12/2012/TT-BYT, Thông tư số 34/2015/TT-BYT, Thông tư số 32/2016/TT-BYT, Thông tư số 34/2016/TT-BYT và Văn bản hợp nhất số 02/2019/VBHN-BYT của Bộ Y tế.

Về mặt lý luận, tác giả tiếp cận MTH dưới hai góc độ:

  • Dưới góc độ sự kiện pháp lý: Hành vi sinh đẻ của người MTH mang tính chất là sự biến pháp lý tương đối, làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa bên nhờ MTH, bên MTH và đứa trẻ sinh ra.
  • Dưới góc độ quan hệ pháp luật: Thỏa thuận MTH là một dạng hợp đồng dân sự đặc biệt, có đối tượng là công việc phải làm và hướng tới mục đích bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ của các cặp vợ chồng vô sinh.

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm: phương pháp lịch sử (nghiên cứu tiến trình phát triển của pháp luật qua các thời kỳ), phương pháp thống kê (xử lý số liệu về vô sinh và chi phí y tế), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy phạm giữa các văn bản luật) và phương pháp xã hội học pháp luật. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ báo cáo của Bộ Y tế, số liệu của Hội Nội tiết Sinh sản và Vô sinh TP. Hồ Chí Minh (HOSREM) và các tài liệu học thuật trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý, sinh học và xã hội của MTH và MTHVMĐNĐ:

  • Bản chất khoa học và kỹ thuật: MTH là việc áp dụng biện pháp kỹ thuật lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng nhờ mang thai để thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), sau đó cấy phôi vào tử cung người phụ nữ nhận mang thai hộ. Đứa trẻ sinh ra mang hoàn toàn vật chất di truyền của bên nhờ mang thai, không có liên hệ huyết thống với người mang thai.
  • Tiêu chí phân biệt MTHVMĐNĐ và MTHVMĐTM:
Tiêu chí phân biệt Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (MTHVMĐNĐ) Mang thai hộ vì mục đích thương mại (MTHVMĐTM)
Mục đích thực hiện Hỗ trợ, giúp đỡ các cặp vợ chồng vô sinh không thể tự sinh con; hoàn toàn phi thương mại, không vì lợi ích kinh tế. Hưởng lợi ích về kinh tế, tiền tệ hoặc các lợi ích vật chất khác.
Bảo hộ pháp lý Được pháp luật công nhận, xác lập đầy đủ quyền, nghĩa vụ và bảo vệ bằng khung pháp lý chặt chẽ. Bị pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối; có thể bị xử lý chế tài hành chính hoặc hình sự.
Số lần thực hiện Người được nhờ mang thai hộ chỉ được thực hiện 01 lần duy nhất trong đời. Thường diễn ra nhiều lần, biến người phụ nữ thành đối tượng mang thai chuyên nghiệp ("máy đẻ").
Kỹ thuật áp dụng Bắt buộc áp dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) từ giao tử của chính vợ chồng nhờ mang thai. Có thể áp dụng mọi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (kể cả bơm tinh trùng - IUI hoặc sử dụng noãn của người mang thai).
  • Bốn nguyên tắc thực hiện MTHVMĐNĐ: (1) Nguyên tắc nhân đạo; (2) Nguyên tắc tự nguyện; (3) Nguyên tắc bảo đảm an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 21 Hiến pháp năm 2013); (4) Nguyên tắc đảm bảo quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành.
  • Ý nghĩa và lịch sử phát triển: Chế định góp phần đảm bảo quyền con người, giúp gia đình thực hiện chức năng sinh đẻ, giữ gìn hạnh phúc gia đình và thúc đẩy ứng dụng thành tựu y học (Việt Nam đạt dấu mốc thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên vào ngày 30/4/1998 và trở thành quốc gia thực hiện IVF nhiều nhất khu vực Đông Nam Á).

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết các quy định pháp luật hiện hành và chỉ ra những mâu thuẫn, vướng mắc trong thực tế áp dụng:

  • Điều kiện đối với các chủ thể:
    • Bên nhờ MTH: Phải là vợ chồng hợp pháp; có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; đang không có con chung; đã được tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý (Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014). Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa khái niệm "cặp vợ chồng vô sinh" tại Điều 2, Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP và Luật HN&GĐ năm 2014.
    • Bên nhận MTH: Phải là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng; đã từng sinh con và chỉ được MTH một lần; ở độ tuổi phù hợp (thường từ 20 đến 35 tuổi); có xác nhận về khả năng mang thai; nếu có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đã được tư vấn đầy đủ. Tác giả phát hiện sự mâu thuẫn giữa phạm vi "người thân thích" tại khoản 19 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 và phạm vi "người thân thích cùng hàng" tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
    • Cơ sở y tế thực hiện: Phải có ít nhất 02 năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật IVF kể từ ngày được Bộ Y tế cấp phép (theo Nghị định số 98/2016/NĐ-CP và Văn bản hợp nhất số 02/2019/VBHN-BYT).
  • Nội dung, hình thức và thủ tục thỏa thuận: Thỏa thuận MTH phải được lập thành văn bản có công chứng. Hồ sơ đề nghị gửi cơ sở y tế thẩm định, thời hạn giải quyết là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
  • Quyền và nghĩa vụ tài chính bắt buộc: Theo Thông tư số 32/2016/TT-BYT, bên nhờ MTH có nghĩa vụ chi trả 4 nhóm chi phí thực tế:
STT Danh mục chi phí bắt buộc Căn cứ và phương thức tính toán
1 Chi phí đi lại để tư vấn, khám, kiểm tra, theo dõi sức khỏe Theo giá ghi trên vé, hóa đơn hoặc giấy biên nhận thanh toán với chủ phương tiện.
2 Chi phí thực hiện dịch vụ tư vấn, khám chữa bệnh Căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ thanh toán chi phí khám chữa bệnh thực tế.
3 Chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, vật tư y tế Căn cứ vào hóa đơn, chứng từ thanh toán theo số lượng thực tế theo chỉ định của bác sĩ.
4 Chi phí dinh dưỡng, vật dụng chăm sóc vệ sinh cá nhân Theo thỏa thuận giữa các bên, căn cứ theo hóa đơn (nếu có) hoặc giấy biên nhận.
  • Các bất cập pháp lý và thực tiễn phát hiện:
    • Quy định yêu cầu xác nhận tình trạng chưa có con chung của UBND cấp xã nơi thường trú (Nghị định số 10/2015/NĐ-CP) gây bế tắc cho các cặp vợ chồng chỉ có nơi tạm trú theo Luật Cư trú năm 2013.
    • Quy định bắt buộc có văn bản đồng ý của chồng người MTH dẫn đến khó khăn khi hai vợ chồng đã ly thân trên thực tế hoặc người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự.
    • Pháp luật thiếu cơ chế kiểm tra điều kiện "chỉ được mang thai hộ một lần", tạo kẽ hở cho các hành vi gian dối.
    • Chưa có chế tài đối với bên MTH vi phạm nghĩa vụ thăm khám, sàng lọc trước sinh theo Thông tư số 34/2016/TT-BYT.
    • Quyền thừa kế của thai nhi chưa sinh ra bị ảnh hưởng khi bên nhờ MTH chết trước thời điểm trẻ chào đời (xung đột giữa thời điểm phát sinh quan hệ cha mẹ - con tại Luật HN&GĐ và quy định thừa kế tại Điều 651 BLDS năm 2015).
    • Quy định nghĩa vụ nhận con là tuyệt đối, chưa dự liệu cơ chế cho phép người MTH nhận nuôi đứa trẻ nếu bên nhờ MTH từ chối nhận con khi trẻ sinh ra bị dị tật hoặc gia đình nhờ MTH ly hôn.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Trên cơ sở các vướng mắc được chỉ ra ở Chương 2, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm giải pháp lập pháp:
    • Sửa đổi, chuẩn hóa các khái niệm "cặp vợ chồng vô sinh", "người thân thích cùng hàng" nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.
    • Bổ sung thẩm quyền xác nhận tình trạng chưa có con chung cho UBND cấp xã nơi tạm trú.
    • Đơn giản hóa thủ tục chứng minh người MTH đã từng sinh con thông qua giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh thay vì bắt buộc cơ sở y tế xác nhận.
    • Xây dựng quy định xử lý các trường hợp ngoại lệ liên quan đến sự đồng ý của người chồng bên MTH (khi ly thân hoặc mất năng lực hành vi dân sự).
    • Bổ sung chế tài cụ thể xử lý hành vi không tuân thủ quy trình thăm khám, sàng lọc thai nhi của bên MTH.
    • Hoàn thiện quy định về quyền thừa kế của đứa trẻ đối với di sản của bên nhờ MTH khi họ chết trước thời điểm sinh con; quy định cơ chế chuyển quyền nuôi dưỡng theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khi bên nhờ MTH từ chối nhận con.
  • Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện:
    • Tăng cường kiểm soát chuyên môn y tế, mở rộng có kiểm soát số lượng cơ sở y tế đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật MTHVMĐNĐ.
    • Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về các trường hợp MTH để kiểm soát chặt chẽ điều kiện "chỉ được mang thai hộ một lần".
    • Xem xét cơ chế hỗ trợ tài chính hoặc bảo hiểm y tế cho các trường hợp vô sinh có hoàn cảnh khó khăn.
    • Nâng cao năng lực tư vấn y tế, tâm lý và pháp lý tại các bệnh viện phụ sản.

Kết quả và đóng góp

  • Dữ liệu và kết quả thực tế:
    • Khóa luận lượng hóa nhu cầu MTH tại Việt Nam với khoảng 500 - 700 trường hợp mỗi năm.
    • Thống kê chi phí thực tế cho một ca MTH dao động khoảng 2.000 USD (tương đương 40 - 45 triệu đồng đối với ca bình thường và 60 - 70 triệu đồng đối với các ca bệnh lý phức tạp), không được bảo hiểm y tế chi trả.
    • Hệ thống hóa các mốc lịch sử phát triển kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ ca sinh đầu tiên ngày 30/4/1998 đến giai đoạn thực thi Luật HN&GĐ năm 2014.
  • Đóng góp khoa học và hoàn thiện thể chế:
    • Khóa luận làm rõ bản chất thỏa thuận MTH dưới góc độ hợp đồng dân sự đặc biệt và sự biến pháp lý tương đối.
    • Phát hiện và phân tích toàn diện 7 điểm xung đột/bất cập pháp lý giữa Luật HN&GĐ năm 2014 với Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Cư trú năm 2013 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
    • Đề xuất các giải pháp lập pháp mang tính khả thi nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em sinh ra từ kỹ thuật MTH.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Khóa luận chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các quan hệ MTHVMĐNĐ trong nước, không nghiên cứu các trường hợp MTH có yếu tố nước ngoài (vấn đề đang phát sinh nhiều tranh chấp pháp lý phức tạp trong tư pháp quốc tế).
  • Đề tài tập trung chủ yếu vào pháp luật nội dung của Luật Hôn nhân và Gia đình, chưa đi sâu phân tích toàn diện các quy trình tố tụng tư pháp tại Tòa án khi phát sinh tranh chấp giao - nhận con hoặc khởi kiện bồi thường thiệt hại.
  • Dữ liệu thực tiễn và khảo sát áp dụng pháp luật của khóa luận giới hạn trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2020. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá giai đoạn sau năm 2020, nghiên cứu chuyên sâu về MTH có yếu tố nước ngoài và cơ chế giải quyết tranh chấp tố tụng dân sự.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Y tế công cộng và Xã hội học.

Nội dung tại Chương 2 có giá trị ứng dụng cao đối với cán bộ tư pháp - hộ tịch tại Ủy ban nhân dân các cấp, luật sư tư vấn, chuyên viên pháp chế và đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế làm việc tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản (Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế, Bệnh viện Từ Dũ...), đặc biệt là quy trình thẩm định hồ sơ, xác lập văn bản thỏa thuận và giải quyết tranh chấp quyền nuôi dưỡng.

Câu hỏi thường gặp

1. Cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng các điều kiện pháp lý nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014, cặp vợ chồng nhờ MTH phải đáp ứng 4 điều kiện: (1) Là vợ chồng hợp pháp; (2) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; (3) Vợ chồng đang không có con chung; (4) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý.

2. Người được nhờ mang thai hộ phải đáp ứng điều kiện gì về quan hệ thân thích và số lần mang thai hộ?
Căn cứ khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 và Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, người được nhờ MTH phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng (chị em ruột, chị em cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha, chị em con chú/bác/cô/cậu/dì, chị dâu/em dâu), đã từng sinh con và chỉ được phép mang thai hộ 01 lần duy nhất.

3. Pháp luật quy định những chi phí bắt buộc nào mà bên nhờ mang thai hộ phải chi trả?
Căn cứ Điều 3 Thông tư số 32/2016/TT-BYT, bên nhờ MTH bắt buộc phải chi trả 4 nhóm chi phí chăm sóc sức khỏe sinh sản: chi phí đi lại khám và theo dõi; chi phí dịch vụ khám chữa bệnh; chi phí thuốc, máu, dịch truyền, vật tư y tế; chi phí dinh dưỡng và vật dụng chăm sóc vệ sinh cá nhân trước, trong và sau sinh.

4. Thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ cha mẹ và chế độ thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ được xác định ra sao?
Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ MTH đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra (khoản 2 Điều 98 Luật HN&GĐ năm 2014). Theo khoản 2 Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người mẹ nhờ MTH được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

5. Bất cập pháp lý phát sinh đối với quy định văn bản đồng ý của người chồng bên mang thai hộ là gì?
Điểm d khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 và điểm h khoản 1 Điều 14 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP bắt buộc phải có văn bản đồng ý của người chồng nếu người MTH đã kết hôn. Tuy nhiên, luật chưa dự liệu cơ chế giải quyết cho các trường hợp hai vợ chồng đã ly thân trên thực tế hoặc người chồng bị mất năng lực hành vi dân sự, dẫn đến việc hồ sơ bị đình trệ dù người phụ nữ hoàn toàn tự nguyện và đủ điều kiện sức khỏe.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Minh Nam đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phân tích sâu sắc các quy định pháp luật và đánh giá sát thực tế quá trình áp dụng chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020. Tác giả đã chỉ ra các điểm mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý nổi cộm giữa Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với các luật chuyên ngành và văn bản hướng dẫn thi hành. Các kiến nghị sửa đổi quy phạm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý y tế được đề xuất trong công trình có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.