Pháp luật và thực tiễn tổ chức chính quyền địa phương tại phường An Biên

Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện tổ chức, hoạt động chính quyền địa phương tại phường An Biên, Hải Phòng.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ Sở Lý Luận Về Chính Quyền Địa Phương

Chính quyền địa phương là những đơn vị của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ công cho công dân tại cấp trung gian và thấp nhất. Theo Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, chính quyền địa phương được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung, bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp. Tại cấp phường, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đồng thời giải quyết các vấn đề cụ thể của địa phương. Sự phát triển của pháp luật chính quyền địa phương Việt Nam qua các giai đoạn phản ánh quá trình hoàn thiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

1.1. Khái Niệm Chính Quyền Địa Phương Cấp Phường

Chính quyền địa phương cấp phường là cơ quan đại diện quyền lực nhân dân và cơ quan hành chính tại phường, bao gồm HĐND phường và UBND phường. Đây là cấp chính quyền trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, thực hiện các chức năng quản lý hành chính, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh địa phương.

1.2. Vị Trí Và Vai Trò Của Chính Quyền Phường

Vị trí của chính quyền phường là cấp thấp nhất của hệ thống chính quyền địa phương Việt Nam. Vai trò của chính quyền phường bao gồm: xây dựng chiến lược phát triển địa phương, tổ chức thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền lợi người dân, quản lý tài nguyên và môi trường. Đây là nơi tập trung mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân.

II. Thực Tiễn Tổ Chức Hoạt Động Tại Phường An Biên

Phường An Biên, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng là một đơn vị chính quyền địa phương điển hình với diện tích và dân số nhất định. Tổ chức chính quyền phường An Biên bao gồm HĐND phường gồm 21 đại biểu và UBND phường với ban chỉ đạo công tác hành chính. Theo báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2016-2021, hoạt động chính quyền phường An Biên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân. Việc thực hiện pháp luật chính quyền địa phương tại phường An Biên phản ánh những ưu điểm và cả những hạn chế cần được khắc phục.

2.1. Tổ Chức Và Hoạt Động HĐND Phường An Biên

HĐND phường An Biên thực hiện quyền lập pháp cấp phường thông qua các quyết nghị, quyết định. Hoạt động của HĐND phường bao gồm xem xét dự thảo kế hoạch phát triển, bộ máy hành chính, chính sách công dân địa phương. Tuy nhiên, HĐND phường cần nâng cao hiệu quả giám sát đối với UBND phường và công tác cung cấp thông tin cho nhân dân.

2.2. Tổ Chức Và Hoạt Động UBND Phường An Biên

UBND phường An Biên là cơ quan hành chính cấp phường, thực hiện quyền hành pháp theo pháp luật chính quyền địa phương. Hoạt động của UBND phường bao gồm: quản lý xây dựng, quản lý đất đai, cấp phép kinh doanh, giải quyết khiếu nại tố cáo. Công tác hành chính UBND phường đã dần hiện đại hóa nhưng vẫn còn tồn tại những bất cập về hiệu lực, hiệu quả trong thực hiện các chức năng.

III. Những Tồn Tại Trong Hoạt Động Chính Quyền Phường

Từ thực tiễn phường An Biên, có thể nhận thấy một số tồn tại trong tổ chức hoạt động chính quyền địa phương. Đối với HĐND phường, tồn tại như: chất lượng thảo luận còn hạn chế, năng lực của một số đại biểu chưa đáp ứng yêu cầu công tác. Đối với UBND phường, vấn đề chính quyền phường gồm: tình trạng quá tải công việc, thiếu binh lực, năng lực công chức cấp phường chưa hoàn toàn đạt chuẩn. Ngoài ra, pháp luật chính quyền địa phương cần được hoàn thiện để phù hợp với tình hình hiện tại.

3.1. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Chính Quyền

Yếu tố khách quan ảnh hưởng hoạt động chính quyền phường bao gồm: điều kiện kinh tế-xã hội địa phương, cơ sở hạ tầng, khả năng ngân sách. Yếu tố chủ quan gồm: trình độ cán bộ công chức, ý thức, kỷ luật, tác phong làm việc. Cải thiện hoạt động chính quyền phường cần xem xét cân bằng cả hai yếu tố này.

3.2. Nguyên Nhân Của Các Tồn Tại

Nguyên nhân tồn tại trong chính quyền phường bao gồm: pháp luật chưa hoàn thiện, cơ chế quản lý chưa hợp lý, đầu tư cho phát triển chính quyền địa phương còn thiếu. Cơ chế lựa chọn cán bộ chủ chốt chưa đảm bảo tuyển chọn những người thực sự tài năng, sáng kiến.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Chính Quyền Địa Phương Cấp Phường

Để hoàn thiện pháp luật chính quyền địa phương và nâng cao chất lượng hoạt động chính quyền phường, cần thực hiện các giải pháp toàn diện. Thứ nhất, cải cách chính quyền địa phương qua việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn. Thứ hai, phát triển năng lực cán bộ công chức phường thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn. Thứ ba, cải thiện cơ chế hoạt động giữa HĐND và UBND phường để tăng hiệu quả giám sát và hợp tác. Cuối cùng, nâng cao chất lượng dịch vụ công tại phường để phục vụ người dân tốt hơn.

4.1. Định Hướng Hoàn Thiện Pháp Luật

Định hướng hoàn thiện pháp luật chính quyền địa phương cần tập trung vào: rõ ràng hóa thẩm quyền và trách nhiệm của HĐND và UBND phường, quy định chi tiết về quy trình làm việc, tăng cường dân chủ tham gia. Luật Tổ chức chính quyền địa phương cần được sửa đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chính quyền phường hiệu quả hơn.

4.2. Giải Pháp Cụ Thể Nâng Cao Chất Lượng

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chính quyền phường gồm: thực hiện cải cách hành chính chính quyền địa phương, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường kỷ luật, kiểm tra giám sát. Phát triển đội ngũ cán bộ công chức phường có trình độ cao, tích cực sáng tạo. Nâng cao chất lượng dịch vụ công chính quyền phường qua công khai minh bạch.

18/12/2025
Pháp luật về chính quyền địa phương và thực tiễn tổ chức hoạt động tại phường an biên quận lê chân thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 1. Lược sử phát triển của chế định pháp luật về chính quyền địa phương: Trong hệ thống bộ máy nhà nước ở nước ta, cấp phường (hay cấp xã nói chung) là cấp chính quyền cơ sở có vị trí, vai trò rất quan trọng. Phường là điểm cuối cùng của hệ thống chính quyền nhà nước, là nơi hàng ngày chính quyền gắn bó, tiếp xúc mật thiết với nhân dân, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều bắt nguồn từ đây và cũng chính từ đây các chủ trương, chính sách đó đi vào cuộc sống. Sự hình thành và phát triển của Chính quyền địa phương qua các thời kỳ lịch sử của đất nước có thể phân thành 5 giai đoạn, mỗi giai đoạn như sau: Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1960.

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng chính quyền sau khi nước ta giành độc lập. Giai đoạn này Hiến pháp năm 1946 được ban hành và quy định chính quyền địa phương ở Việt Nam gồm có: Hội đồng nhân và Ủy ban hành chính. Hội đồng nhân dân, một thiết chế của chính quyền địa phương được tổ chức ở cấp xã, cấp tỉnh; cấp bộ và cấp huyện không có thiết chế Hội đồng nhân dân. Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương.

Trong giai đoạn này, đã có sự phân biệt tương đối rạch ròi giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; cấp huyện là cấp trung gian, không có HĐND; vai trò của Ủy ban hành chính được đề cao; cơ cấu tổ chức gọn nhẹ. Chính quyền lúc bấy giờ gồm HĐND và Uỷ ban hành chính, trong đó HĐND là cơ quan quyền lực do dân cử ra, bầu ra Uỷ ban hành chính và Uỷ ban hành chính chịu trách nhiệm trước HĐND; các cơ quan chuyên môn đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban hành chính. Giai đoạn thứ hai: Từ 1960 đến 1980, là giai đoạn có khá nhiều nét đặc biệt trong tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương để bảo đảm song song hai nhiệm vụ: vừa xây dựng kinh tế, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Tổ chức và hoạt động của chính quyền thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luật đề cao vai trò của HĐND; cơ cấu tổ chức có xu hướng tăng mạnh so với trước đây; không có sự phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn, nhưng ở các khu vực miền núi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống 2 được thành lập các khu tự trị.

Cụ thể Hiến pháp năm 1959 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức tại cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và bổ sung quy định thành lập khu tự trị. Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính được tổ chức ở các cấp chính quyền địa phương và khu tự trị. Tuy nhiên cùng với nó là chế độ bao cấp và sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống, dẫn đến nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy quản lý cấp dưới, quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm. Giai đoạn thứ ba: Từ 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa trong cả nước.

Hiến pháp năm 1980 quy định số cấp chính quyền địa phương vẫn giữ nguyên 03 cấp; nhưng bỏ quy định thành lập khu tự trị và đổi tên Ủy ban hành chính thành Ủy ban nhân dân. Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương theo mô hình của Liên-Xô (cũ); chỉ các cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra mới được thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà nước; triệt để tuân thủ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa; tổ chức chính quyền ở các cấp cơ bản giống nhau. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Chính quyền địa phương giai đoạn này không được phát huy, dân chủ trở nên hình thức. Tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương đều rập khuôn theo chính quyền Trung ương.

Tình hình đó dẫn đến chính quyền cấp phường rơi vào tình trạng lúng túng về phương thức hoạt động. Để khắc phục những khiếm khuyết đó, Nhà nước đã có những văn bản quy định nhiệm vụ, chức năng của các cấp chính quyền địa phương. Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến 2013. Với sự nhận thức mới về bộ máy nhà nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên các cấp Chính quyền địa phương đã chủ động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong tổ chức và hoạt động.

Hiến pháp năm 1992 quy định về tổ chức chính quyền địa phương có 03 cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 đã cụ thể hóa "Hiến pháp 92" về quy định các cấp chính quyền địa phương khác nhau về phạm vi, mức độ cụ thể về các nhiệm vụ, quyền hạn; Hội đồng nhân dân các cấp có chức năng quyết định, giám sát; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước tại các địa phương trên địa bàn quản lý. Điểm khác biệt của các cấp chính quyền địa phương thể hiện rõ nét tại cấp huyện là cấp trung gian và cấp phường (xã, phường, thị trấn) có sự lồng ghép một số lĩnh vực quản lý nhà nước gần nhau. Giai đoạn thứ năm: Từ năm 2013 đến nay.

Với Hiến pháp mới 2013 và sự ra đời của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015; Luật sửa đổi, bổ sung 3 một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 (sau đây gọi chung là Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Chính quyền địa phương đã có nhiều đổi mới cả về tổ chức và hoạt động. Việc phân cấp, phân quyền và ủy quyền tuy vẫn còn nhiều lúng túng và có nhiều vấn đề cần rút kinh nghiệm, chỉnh sửa, bổ sung, song đã cơ bản bảo đảm thiết lập các nguyên tắc về tính chất, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và các cơ quan trong bộ máy chính quyền địa phương tương đối ổn định, phù hợp với tính chất có hiệu lực lâu dài của Hiến pháp, khắc phục những vướng mắc, hạn chế trong tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong thời gian qua và là cơ sở Hiến định để cụ thể hóa trong Luật tổ chức chính quyền địa phương đồng thời đã phần nào “cởi trói” cho chính quyền địa phương, nhất là đối với cấp phường nói riêng và cấp xã nói chung. Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, mô hình tổ chức và hoạt động của Chính quyền địa phương ở nước ta mang những đặc trưng riêng.

Thực tiễn cũng đã chỉ ra được những điểm hợp lý, những bài học kinh nghiệm rất có giá trị cho quá trình nghiên cứu, xây dựng một mô hình tổ chức Chính quyền địa phương hoạt động có hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới. Khái niệm về chính quyền địa phương: 1. Khái niệm chính quyền địa phương: Ở nước ta từ trước đến nay, thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương. Trong Hiến pháp năm 1992, chương nói về chính quyền địa phương có tên gọi là: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Đến Hiến pháp năm 2013, tên gọi của chương này được đổi tên thành Chính quyền địa phương. Theo quy định tại Điều 111 Hiến pháp năm 2013: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật quy định. Như vậy, Hiến pháp đã chỉ rõ: Chính quyền địa phương, về cơ bản bao gồm 2 cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó: - Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân 4 địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

- Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Tuy nhiên, Hiến pháp đã nêu rõ: cấp chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Điều đó có nghĩa là, ở đâu được coi là cấp chính quyền thì chính quyền ở đó bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, còn ở đâu không được coi là cấp chính quyền thì sẽ có cơ quan hành chính thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính và dịch vụ công tại địa bàn. Với cách quy định này, Hiến pháp đã mở ra những khả năng đổi mới một bước quan trọng trong tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở kế thừa kết quả thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường theo tinh thần Nghị quyết số 26 của Quốc hội và thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua.

Quy định của Hiến pháp về chính quyền địa phương đã được Nhà nước cụ thể hóa trong các luật: Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa dổi, bổ sung Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2019; Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Tại điểm 2 và 3 Điều 4 Tổ chức chính quyền địa quy định tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính như sau: - Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã. - Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực thuộc Trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương, phường, thị trấn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ