Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ SỐ 1. Khái niệm về nền kinh tế số Thuật ngữ “kinh tế số” được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây và xuất hiện trước cả thuật ngữ “cách mạng công nghệ 4. Sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của Internet cùng với sự ứng dụng rộng rãi của nó trong kinh doanh đã kéo theo sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các hoạt động kinh tế liên quan. Nó dẫn đến sự đa dạng và phong phú của định nghĩa về nền kinh tế kỹ thuật số.
Cho đến nay, các nhà nghiên cứu không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa về nền kinh tế số, vì "nền kinh tế số" về bản chất là một thuật ngữ khó định nghĩa và đo lường cụ thể. Năm 2017, Bukht & Heeks (2017)4 đã tổng hợp 21 định nghĩa tiêu biểu về nền kinh tế số. Theo đó, định nghĩa đầu tiên về nền kinh tế kỹ thuật số xuất hiện vào năm 1995 và ngày càng có nhiều định nghĩa mới. Trong số đó có một số định nghĩa tiêu biểu và dễ tiếp cận như: Khái niệm nền kinh tế số đã được Don Tapscott lần đầu nhắc đến trong cuốn sách The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence (Tạm dịch là Nền kinh tế kỹ thuật số: Lời hứa và nguy cơ trong thời đại trí tuệ kết nối), được xuất bản vào năm 1996.
Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên nghiên cứu cách Internet sẽ thay đổi cách chúng ta kinh doanh như thế nào. Trong cuốn sách này, Tapscott đã nói rằng: Không có định nghĩa trực tiếp hay đơn giản nhưng có thể gọi nó là “thời đại của trí thông minh được kết nối” nơi mà nó “không chỉ về mạng lưới công nghệ… máy móc thông minh… mà còn kết nối mọi người thông qua công nghệ”, “Kết hợp trí tuệ, kiến thức và sự sáng tạo để tạo ra những đột phá trong việc tạo ra sự phát triển xã hội”35. 2 Theo Mesenbourg (2001)6, khái niệm “Nền kinh tế số” bao gồm ba thành phần chính: - Cơ sở hạ tầng kinh doanh điện tử là một phần của cơ sở hạ tầng kinh tế tổng thể, được sử dụng để hỗ trợ quá trình kinh doanh điện tử và triển khai thương mại điện tử, - Kinh doanh điện tử (e-business) là quá trình hoạt động kinh doanh của một tổ chức thông qua mạng máy tính trung gian. - Thương mại điện tử (e-commerce) là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được bán thông qua mạng máy tính trung gian.
Trong khi đó, Rouse (2016) đã đưa ra một định nghĩa khá súc tích, đơn giản về kinh tế số như sau: “Nền kinh tế kỹ thuật số là mạng lưới các hoạt động kinh tế trên toàn cầu được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin và truyền thông, và có thể được định nghĩa đơn giản hơn là một nền kinh tế dựa trên công nghệ kỹ thuật số”7. Tại Việt Nam, Cameron và các cộng sự (2019) đã đánh giá khái niệm từ nhiều khía cạnh khác nhau. Vì vậy, nền kinh tế số theo nghĩa hẹp chỉ là một khái niệm dùng để chỉ lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông. Theo nghĩa rộng hơn, kinh tế số sẽ bao gồm các ngành nghề có mô hình kinh doanh liên quan mật thiết với công nghệ số.
Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao gồm các ngành nghề truyền thống đang tìm cách đưa công nghệ số vào hoạt động của mình8. Tùy theo tình huống mà từng khái theo nghĩa rộng hay hẹp được sử dụng, nhưng trong nghiên cứu, thì kinh tế số thường được hiểu theo cách rộng nhất, đó là: “Nền kinh tế số bao gồm tất cả các doanh nghiệp, dịch vụ có mô hình kinh doanh chủ yếu dựa trên việc mua, bán hoặc phân phối các sản phẩm, dịch vụ số hoặc các thiết bị và thiết bị hỗ trợ”9. 3 Ngoài các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu đưa ra, các tổ chức và hiệp hội quốc tế cũng tích cực tham gia vào việc tìm ra một khái niệm cho thuật ngữ “kinh tế số” với các định nghĩa khác nhau cả về phạm vi lẫn quy mô. Một số định nghĩa do một số tổ chức kinh tế, giáo dục đưa ra như sau: Theo Hiệp hội Máy tính Anh Quốc (British Computer Society): “Nền kinh tế số đề cập đến một nền kinh tế dựa trên công nghệ kỹ thuật số, mặc dù chúng tôi ngày càng nhận thức được điều này chính là việc kinh doanh thông qua thị trường dựa trên Internet và mạng lưới World Wide Web”10.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD đã đưa ra khái niệm của kinh tế số vào năm 2013 như sau: “Nền kinh tế số cho phép thực hiện và tiến hành thương mại hàng hóa và dịch vụ thông qua thương mại điện tử trên Internet”11. Trong khi đó, G20 đã định nghĩa nó bằng cách nhấn mạnh vào tầm quan trọng của công nghệ thông tin và truyền thông, tập trung vào các chính sách, bao gồm các chính sách xuyên quốc gia, các chính sách ưu tiên cho nền kinh tế số. Định nghĩa cụ thể mà G20 đã đưa ra như sau: “Nền kinh tế số là một loạt các hoạt động kinh tế mà nó sử dụng thông tin và tri thức được số hóa làm yếu tố chính của sản xuất, mạng thông tin hiện đại như một không gian hoạt động quan trọng và sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin và truyền thông như một động lực quan trọng của tăng trưởng năng suất và kinh tế tối ưu hóa cấu trúc”12. Và gần đây nhất là Tờ báo Đại học Oxford (Oxford University Press) đã định nghĩa nền kinh tế số là: “một nền kinh tế vận hành chủ yếu bằng công nghệ kỹ thuật số, đặc biệt khi các giao dịch điện tử thực hiện thông qua việc sử dụng Internet”13.
10 British Computer Society, (2014). “The Digital Economy, British Computer Society”, Development Informatics working paper, (1), pp. 11 OECD (2013), “The Digital Economy”, OECD, Paris, <http://www.org/daf/competition/The- DigitalEconomy.pdf>,, truy cập ngày 14/04/2022. 12 G20 DETF (2016), “G20 Digital Economy Development and Cooperation Initiative”, G20 Digital Economy Task Force, pp.
13 OUP (2017), “Digital Economy”, Oxford Dictionary, Oxford University Press, Oxford, UK. <https://en.com/definition/digital_economy>, truy cập ngày 14/04/2022. 4 Như vậy, với những định nghĩa được nêu trên, có thể thấy được rằng mặc dù chưa có sự thống nhất về khái niệm “nền kinh tế số” nhưng có thể hình dung được khái niệm nền kinh tế số là một nền kinh tế được vận hành trên nền tảng công nghệ số, trong đó các giao dịch điện tử tiến hành thông qua Internet, Vạn vật kết nối (IoT). Nó bao trùm tất cả các lĩnh vực và thị trường kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, giao thông vận tải, logistic,.
mà kỹ thuật số có thể áp dụng. Nói cách khách, trong nền kinh tế số, khoa học và công nghệ thông tin chính là cầu nối trung gian, là cơ sở quan trọng để nền kinh tế vận hành một cách trơn tru và nhanh chóng. Đặc điểm của nền kinh tế số Với mỗi nền kinh tế sẽ có những đặc điểm khác nhau tạo nên những chu kỳ kinh tế khác nhau. Để vận hành tốt trong nền kinh tế này, cần phải hiểu các đặc trưng và bản chất của nó để tạo đòn bẩy và tăng trưởng.
Theo Cameron và các cộng sự (2019), so với nền kinh tế truyền thống, nền kinh tế số có những đặc điểm mới sau: (1) Dữ liệu chính là nguồn tài nguyên quý giá trong nền kinh tế số, với sự phát triển của công nghệ hình thành nên nhiều nguồn thu thập dữ liệu khác nhau. Với khả năng phân tích dữ liệu lớn, có thể tạo ra giá trị trong mọi hoạt động cá nhân và cộng đồng; (2) Sự tiến bộ của các phần cứng và phần mềm công nghệ thông tin - truyền thông, nền kinh tế số là kết quả của sự phát triển các công nghệ kỹ thuật số mới (công nghệ robot, Internet vạn vật, nền tảng kỹ thuật số) – có tác động biến đổi vượt ra ngoài lĩnh vực công nghệ thông tin; (3) Mô hình kinh doanh mới là yếu tố biến động cho các doanh nghiệp, chúng vừa mang lại những cơ hội nhưng cũng có thể tạo ra những thách thức không hề nhỏ cho các doanh nghiệp; và (4) Vai trò mới của người tiêu dùng, công nghệ số sẽ đặt người tiêu dùng vào vị trí trung tâm, trở nên quyền năng hơn khi có thể tự do đưa ra và chia sẻ các ý kiến14. Trong khi đó, Capobianco & Nyeso (2018) đánh giá nền kinh tế số gồm 4 yếu tố chính: (1) Các mô hình kinh doanh kỹ thuật số và chuỗi giá trị số; (2) Ảnh hưởng của 14 Cameron A. 5 mạng lưới liên kết; (3) Tỷ lệ đầu tư và đổi mới cao; (4) Sự phát triển và tầm quan trọng của dữ liệu cũng như sức mạnh tính toán15.
Với Wismer, Bongard & Rasek (2017), nền kinh tế số là một thị trường nhiều mặt và nhận định định rằng tất cả các nhà nghiên cứu và các nhà thực hành đều đồng ý rằng thị trường nhiều mặt có định nghĩa đặc biệt hơn so với thị trường truyền thống dựa trên những đặc trưng của nó16. Qua đó có thể thấy, mỗi nhà nghiên cứu sẽ nhìn nhận nền kinh tế số có các đặc điểm khác nhau, cũng có một vài đặc tính được đại đa số chấp thuận, theo đó nền kinh tế số sẽ có những đặc điểm cơ bản nhất định sau: Đầu tiên là tính linh hoạt của quá trình vận hành và điều hành. Bởi những tiến bộ trong công nghệ thông tin và truyền thông đã làm giảm một cách đáng kể các chi phí liên quan đến việc tổ chức và điều phối các hoạt động kinh doanh trong một thời gian dài (Haucap & Stühmeier, 2015)17. Với mạng lưới kết nối Internet tiên tiến như hiện nay, các doanh nghiệp có thể quản lý các hoạt động kinh doanh hay hoạt động nội bộ trong công ty của mình bất kỳ đâu trên cơ sở tích hợp từ một vị trí trung tâm.
Giờ đây, vị trí địa lý không còn là vấn đề lớn đối với nhà cung cấp, nhà quản lý hay khách hàng của họ. Nói cách khác, các thị trường trong nền kinh tế số là thị trường phi vật chất (non- physical markets). Điều này mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường xuyên lục địa và tạo cơ hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ của mình cho các quốc gia khác. Đặc điểm thứ hai là nền kinh tế số phụ thuộc vào các dữ liệu mạng.
Trong phạm vi thị trường này, người bán kinh doanh các sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng mạng máy tính, chẳng hạn như Internet18. Do khả năng khắc phục sự bất cân xứng thông tin giữa cung và cầu, dữ liệu ngày nay có giá trị kinh tế.