Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở LÀNG NGHỀ 1. Khái quát chung về bảo vệ môi trƣờn làn n ề và p áp luật về bảo vệ môi trƣờn làn n ề 1. Làng nghề và bảo vệ môi trường làng nghề 1. Làng nghề và môi trường làng nghề Làng nghề ở nƣớc ta hình thành từ rất lâu đời, là một nét đặc trƣng của ngƣời Việt ở các vùng nông thôn.
Xuất phát từ việc tận dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp để phục vụ nhu cầu đời sống. Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cƣơng tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phƣơng [24, tr.
Cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất về khái niệm “làng nghề”. Theo giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng cho rằng “làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhƣng cũng có một số nghề phụ khác nhƣ đan lát, gốm sứ, làm tƣơng. song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phƣờng (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ƣ nghệ, tử ƣ nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu đƣợc bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trƣờng là 9 vùng rộng xung quanh và với thị trƣờng đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nƣớc rồi có thể xuất khẩu ra cả nƣớc ngoài” [17, tr.
Nghề truyền thống là nghề đã đƣợc hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, đƣợc lƣu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nhằm bảo tồn, phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn. Khoản 2, Điều, nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2016 của Chính phủ quy định ““Làng nghề” là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn” [9]. Theo đó các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 trong Nghị định 52 bao gồm: Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; Sản xuất muối; Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cƣ nông thôn.
Với đặc trƣng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc. Các làng nghề xuất hiện để tận dụng thời gian nông nhàn của ngƣời dân sau mùa vụ, sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp đƣợc tách dần, nhƣng vẫn gắn bó với sản xuất nông nghiệp của ngƣời dân, đan xen lẫn nhau và ngƣời thợ thủ công trƣớc hết và đồng thời là ngƣời nông dân. Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, là sự kết giao giữa phƣơng pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật, chứa đựng ảnh hƣởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngƣỡng, tôn giáo của dân tộc. 10 Theo từ điển Larouse “Môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật.
Nói cụ thể hơn đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó có thể có sự sống hoặc không có sự sống, các yếu tố đều chịu sự ảnh hưởng sâu sắc cử những định luật vật lý, mang tính tổng quát hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ trụ, năng lượng phát xạ, bảo tồn vật chất. Trong đó hiện tượng hóa học và sinh học là những đặc thù của môi trường bao gồm tất cả những nhân tố tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật” [33]. Theo Từ điển tiếng việt “môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong môi quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [34]. Khoản 1, điều 3, Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014 quy định: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [28].
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu môi trƣờng làng nghề là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời và sinh vật trong các làng nghề. Bảo vệ môi trường làng nghề và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường làng nghề Hoạt động bảo vệ môi trƣờng là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trƣờng; ứng phó sự cố môi trƣờng; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trƣờng; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trƣờng trong lành [28]. Bảo vệ môi trƣờng làng nghề là những hoạt động giữ cho môi trƣờng làng nghề trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trƣờng, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con ngƣời và thiên nhiên gây ra cho môi trƣờng làng nghề, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài 11 nguyên thiên nhiên. Các làng nghề có vai trò quan trọng trong đời sống, xã hội của con ngƣời, làng nghề có giá trị truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc với những sản phẩm có độ thẩm mỹ cao, kết tinh tài hoa qua nhiều thế hệ phản ánh sinh động lối sống và ƣớc vọng của ngƣời lao động, thấm đẫm tâm hồn ngƣời Việt Nam đồng thời gìn giữ truyền thống từ đời này sang đời khác.
Sản phẩm truyền thống không chỉ đem lại giá trị kinh tế trong nƣớc mà còn đem lại giá trị ngoại tệ khi đƣợc xuất khẩu ra nƣớc ngoài, sản phẩm của nghề truyền thống đã thể hiện rõ và bảo tồn đƣợc những nét, những sắc thái độc đáo của dân tộc. Các làng nghề tác động lớn đến phát triển du lịch, làng nghề truyền thống là tài nguyên du lịch nhân văn góp phần thu hút số lƣợng lớn khách du lịch, làm cho hoạt động du lịch thêm phong phú đa dạng, tạo nên nhiều lựa chọn hấp dẫn cho du khách. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay, các làng nghề phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên với việc gia tăng phát triển cả về số lƣợng làng nghề và loại ngành nghề, kéo theo đó là tình trạng ô nhiễm môi trƣờng cũng ngày càng tăng. Nổi cộm vấn đề ô nhiễm môi trƣờng làng nghề đó là các vấn đề khí thải, nƣớc thải, chất rắn chƣa đƣợc xử lý đã xả thẳng ra môi trƣờng.
Hậu quả ô nhiễm môi trƣờng làng nghề là rất lớn, nó tác động đối với sức khỏe con ngƣời, vấn đề kinh tế - xã hội và đối với hệ sinh thái. Ảnh hƣởng do ô nhiễm môi trƣờng làng nghề đến môi trƣờng sống của con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua tuổi thọ trung bình của ngƣời dân tại các làng nghề ngày càng giảm đi, thấp hơn nhiều so với tuổi thọ khu dân cƣ không có nghề, tỷ lệ mắc các bệnh ngoài da, hô hấp, đau mắt, ung thƣ do tác động của ô nhiễm không khí, đất, nƣớc gây nên. Nhƣ vậy, ô nhiễm môi trƣờng làng nghề nó không chỉ ảnh hƣởng đến môi trƣờng, môi sinh, đến sự tồn tại và phát triển làng nghề, nó còn đe dọa trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng con ngƣời. 12 Cùng với sự phát triển của đất nƣớc, sự phát triển của làng nghề nhằm đáp ứng nhu cầu thị trƣờng, hoạt động sản xuất làng nghề ngày càng đẩy mạnh.
Các loại hình sản xuất thủ công mỹ nghệ, cơ khí, sơn mài có tiềm năng lớn do nhu cầu xuất khẩu và du lịch. Dự báo trong những năm tới, thành phần chất thải phát sinh từ các làng nghề ngày càng tăng, có những thay đổi nhất định. Nếu tình trạng xử lý chất thải tại các làng nghề không đƣợc tốt thì chất lƣợng chất thải ngày càng tăng, tình trạng ONMT ngày càng phức tạp, vấn đề ô nhiễm đất, nƣớc, không khí, cảnh quan thiên nhiên khó kiểm soát, khó khắc phục. Pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề 1.
Khái niệm, đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề Pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Theo quan điểm của học thuyết Mác - Lênin pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp. “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước” [30]. Vấn đề môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng là vấn đề toàn cầu, có vai trò quan trọng đối với đời sống xã hội và sự phát triển mỗi quốc gia, tuy nhiên pháp luật bảo vệ môi trƣờng ở Việt Nam đƣợc hình thành khá muộn, trƣớc năm 1986 thì vấn đề bảo vệ môi trƣờng còn chƣa đƣợc đề cập đến cụ thể do Việt Nam sau những năm chiến tranh khốc liệt, vấn đề cốt lõi là để ổn định đất nƣớc và phát triển kinh tế với việc chỉ chú trọng khai thác mà không tính đến tái sinh nguồn tài nguyên.
Khi vấn đề mất cân bằng sinh thái, sự biến đổi khí hậu gây nên hậu quả nghiêm trọng, thì vấn đề môi trƣờng trở thành một thách thức và yêu cầu phải hình thành một hệ thống phát luật về bảo vệ môi 13 trƣờng.