chương 1, trong chương 2 nêu lên khái quát về các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long và các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó, trong chương nay tac giả tông hợp các nghiên cứu khoa học trước về mối quan hệ giữa các yếu tố đến thu ngân sách dựa trên khung lý thuyết và thực nghiệm đã được chứng minh có cơ sở khoa học, từ cơ sở đó đưa ra mô hình nghiên cứu của đề tài. Khái quát về các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Các tỉnh vùng biển và ven biển Đồng bằng sông Cửu Long: bao gồm 29 huyện, thị của 07 tỉnh có biển từ Tiền Giang đến tỉnh Kiên Giang.
Diện tích tự nhiên vùng ven biển 12.094 km”, dân số năm 2013 là hơn 3,61 triệu người. Đang đây mạnh đầu tư để huyện đảo Phú Quốc thành trung tâm kinh tế lớn của vùng hướng mạnh ra biển. Hoàn thành và đi vào khai thác Cảng hàng không Quốc tế Phú Quốc; các khu du lịch sinh thái chất lượng cao và hệ thống cảng biển, cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão. Các tỉnh ven biên Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình khá bằng phẳng và nông, nơi sâu nhất khoảng 86m.
Hải sản nơi đây có 2.000 loài, trong đó hơn 80 loài có giá trị kinh tế cao; riêng tôm biển có 50 loài, trong đó 15 loài có giá trị kinh tế cao; 40 loài động vật chân đầu, trong đó 10 loài mực có giá trị kinh tế cao. Tổng trữ lượng hải sản 571. Các tuyến đường nhánh nối đường trục Bắc-Nam đến đường vòng quanh đảo và kết nối đến các khu du lịch trọng điểm trên đảo đang được gấp rút hoàn thành; phát triển các tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây và tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông gắn với xây dựng khu công nghiệp khí - điện - đạm Cà Mau. Đã đưa được điện lưới quốc gia ra đảo và đang nghiên cứu hình thành Đặc khu hành chính- kinh tế Phú Quốc.
Phát triển kinh tế vùng ven biển phải được tập trung đầu tư, đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực theo hướng bên vững: Đưa tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 lên 6,7%/năm và giai đoạn 2016-2020 đạt 7,3%/năm. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế vùng ven biển, trong đó tỷ trọng ngành nông — lâm - 5 ngư nghiệp giảm từ 17,8% năm 2010 xuống 15% năm 2015 và tiếp tục giảm xuống còn 12,1% năm 2020; ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,6% năm 2010 lên 36% năm 2015 và đạt mức 36,3% năm 2020; ngành dịch vụ tăng từ 46,7% năm 2010 lên 48,0% năm 2015 và 51,7% năm 2020. Đến năm 2020, GDP toàn vùng ven biển đạt 1.296 nghìn tỷ đồng, trong đó ngành nông - lâm — ngư nghiệp đạt 156 nghìn tỷ đồng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 470 nghìn tỷ đồng và ngành dịch vụ đạt 670 nghìn tỷ đồng. Thuận lợi và khó khăn 2.
Thuận lợi Khai thác lợi thế của địa hình kinh tế vùng ven biển dé tạo sức mạnh tổng hợp cho phát triển kinh tế biển: Sắp xếp, tô chức lại và kết nối không gian vùng biển và vùng bờ (đất liền) tạo thế vững chắc, liên hoàn sẵn sàng vươn khơi, bám biển để phát triển kinh tế biển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thiết lập hệ thống cơ chế, chính sách đủ mạnh trong quản lý, khai thác, sử dụng tiềm lực vùng ven biển một cách bền vững và hiệu quả: - Khu vực Tây Nam bộ: Phát triển toàn diện ngành hải sản, bao gồm cả khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản và hậu cần dịch vụ nghề cá ven biển, đưa thủy sản thành ngành kinh tế biển mũi nhọn của tiểu vùng và của cả nước; xây dựng Rạch Giá thành trung tâm nghề cá và dịch vụ lớn của cả nước. Hình thành và phát triển các tuyến hành lang kinh tế ven biên gồm Tuyến kinh tế Cần Thơ-Sóc Trăng (chủ yếu phát triển công nghiệp chế biến nông, hải sản và công nghiệp nhẹ phục vụ xuất khâu, phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá); Tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Tây (Rạch Giá - Hà Tiên), chủ yếu tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm khai thác chế biến hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch dịch vụ; và Tuyến hành lang kinh tế ven biển phía Đông (Bạc Liêu-Gành Hào-Cà Mau-Năm Căn), tập trung nguồn nguyên liệu hải sản cho chế biến xuất khâu lớn nhất cả nước, mà còn là khu vực trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tiểu vùng. Xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm giao thương quốc tế, trung tâm du lịch sinh thái đảo - biển của các nước và khu vực và thiết lập Đặc khu hành chính-kinh tế Phú Quốc.
6 Tỷ trọng kinh tế biên năm 2015 đã chiếm 73,3% GDP toàn tỉnh.290km2 mặt nước biển, gấp 10 lần diện tích đất tự nhiên trên đất liền. Trong đó, độ sâu 20-50m chiếm gần 54%, độ sâu trên 50m chiếm gần 22%, còn lại độ sâu dưới 20m. Bờ biển dài hơn 200km, có hàng trăm cửa sông, kênh rạch thoát nước ra biển tây. Địa hình ấy cho nguồn thủy sản đa đạng, phong phú và còn có giá trị lớn phát triển du lịch, vận tải thủy.
Hiện nay, Kiên Giang có đội tàu đánh cá lớn nhất ĐBSCL với 9.945 chiếc, trong đó tàu trọng tải trên 90 CV chiếm hơn 42%. Năm 2015, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng đạt 647.125 tắn; kim ngạch xuất khẩu thủy sản 137,7 triệu USD. Về đơn vị hành chính, Kiên Giang có 2 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải; 51 xã, phường, thị tran ở ven biển và đảo. Tỉnh Cà Mau là tỉnh duy nhất cả nước có 3 mặt giáp biên, chiều dài bờ biển 254 km với 87 cửa sông lớn nhỏ.
Ngư trường rộng hơn 71.000km2, một trong 4 ngư trường lớn lớn nhất nước ta, có trữ lượng lớn về hải sản và dầu khí. Đặc biệt, Cà Mau có vùng bãi bồi rộng lớn rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản ven biển, riêng diện tích tôm nước lợ đã gần 300.000 ha, lớn nhất nước.000 ha rừng, bao gồm rừng ngập mặn khu vực Mũi Cà Mau và rừng tràm U Minh Ha co gia tri nhiều mặt, đã được UNESCO công nhận là Khu sinh quyền thế giới. Năm 2015, tỉnh xuất khẩu thủy sản đạt 960 triệu USD. Về đơn vị hành chính, Cà Mau có 22 xã, phường, thị trấn ven biển và ở dao.
Tính ở thời điểm ngày 31/8/2016, chỉ 4 tỉnh cực nam là Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng có 16.710 chiếc tàu đánh cá; trong đó, công suất trên 90 CV có 6.515 chiếc, dưới 90 CV có 10. So với năm 2014, tàu công suất lớn tăng và giảm số lượng tàu công suất nhỏ. Nhờ đó, có điều kiện áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao hiệu quả khai thác. Khó khăn và hạn chế Hoạt động kinh tế vùng ven biển chưa phát triển mạnh, công tác đầu tư cho phát triển kinh tế vùng ven biển còn dàn trải, quy mô đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng.
Kinh tế thủy sản còn gặp nhiều rủi ro và thiếu tính bền vững, tàu thuyền phổ biến là vỏ gỗ, máy cũ, trang bị lạc hậu và khả năng vươn khơi còn yếu. Ngành vận tải biển 7 va dich vu van tai bién chua phat huy thé manh, nang luc dich vu cang con yếu, kết cấu còn thấp. Du lịch biển đang trong giai đoạn đầu tư hạ tầng dịch vụ, tại nhiều vùng mức đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng. Chưa thành lập được Đặc khu hành chính-kinh tế mang tầm quốc tế, việc phát triên các Khu kinh tế biển còn dàn trải, chưa xứng tam.
Khu công nghiệp đầu tư chưa nhiều, hiệu quả sử dụng đất thấp, cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư chưa đủ mạnh, chưa đạt tầm khu vực; an sinh xã hội trong các khu công nghiệp chưa được giải quyết thảo đáng. Tuy nhiên, theo Tổng cục Thủy sản: “Kinh tế thủy sản vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có của nó, tính bền vững chưa cao, nguồn lợi tự nhiên có dấu hiệu cạn kiệt, sản lượng khai thác thủy sản đang có xu hướng giảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế thủy sản toàn vùng những năm gần đây có xu hướng chậm dân”. Có hai điểm yếu cơ bản của ngành thủy sản vùng Tây Nam Bộ.
Thứ nhất, công nghệ và cơ sở vật chất-kỹ thuật lạc hậu. Cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất của ngư dân. Tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch trong khai thác hải sản còn cao, khoảng 25%. Thứ hai, công tác quản lý ngành kinh tế thủy sản của vùng còn nhiều bất cập như quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ ngư trường.
Hai yếu kém đưa đến hậu quả: nguồn lợi hải sản giảm, cường lực khai thác lại tăng nên đã và đang trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Khai thác tiềm năng mặt nước ven biển chưa hiệu quả; môi trường biển và ven biển một số nơi đã ô nhiễm nặng, nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt, khả năng tái tạo thấp. Cơ sở hạ tầng nói chung và du lịch nói riêng phát triển chậm, chưa đồng bộ. Chính vì hạ tầng ven biển yếu kém mà tỉnh Kiên Giang cũng như cả vùng biển Tây Nam, tồn tại nhiều “xóm đảo” tách biệt, có đời sống văn hóa tinh thần thấp kém.
Tắt cả những vấn đề trên lại dẫn đến tình trạng khai thác sai vùng, sai tuyến, vi phạm pháp luật trong và ngoài nước khá phổ biến, chưa được ngăn chặn có hiệu quả. Bởi vì vùng biển nước ta quản lý chưa tốt, nguồn lợi hải sản cạn kiệt nên ngư dân phải đưa tàu đi khai thác ở vùng biển chồng lấn với nước lân cận và nhiều khi sang han vùng biển của nước khác. Thực trạng thu ngân sách các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cứu Long. Trong thời gian qua, sự suy thoái kinh tế thế giới đã tác động đến nền kinh tế của cả nước và các tỉnh ven biển ĐBSCL; cùng với chính sách miễn giảm, giãn thuế của chính phủ để kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua những khó khăn, thách thức, ổn định sản xuất kinh doanh đã ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN của cả nước và các tỉnh ven biển ĐBSCL.
Thu NSNN các tỉnh ven biển ĐBSCL giai đoạn 2005-2014, trung bình đạt 4.157,26 tỷ đồng/năm; trong đó, lớn nhất là 12.987,51 tỷ đồng/năm và nhỏ nhất là 912,66 tỷ đồng/năm; tăng trưởng trung bình 17,58 %/năm.1: Thu NSNN các tỉnh ven biển ĐBSCL trung bình giai đoạn 2005 — 2014 Don vi tính: tỷ đồng 8,000.