CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. GIỚI THIỆU: Thi công hố đào sâu liên quan đến cả hai vấn đề là ổn định và biến dạng. Một hố đào sâu ổn định là một hố đào mà tường vây không được sụp đổ và đáy của nó không được mất kiểm soát đẩy trồi. Và hố đào sâu được thiết kế để chống lại biến dạng đất nền xung quanh hố đào mà nó có thể gây phá hoại công trình lân cận, đường xá, hay như cơ sở hạ tầng.
Quy mô phá hoại phụ thuộc vào cường độ và kiểu chuyển vị đất nền xung quanh hố đào. Ổn định và biến dạng có liên quan với nhau. Nếu hệ số an toàn chống lại sự phá hoại là lớn, thì biến dạng trong đất xung quanh hố đào sẽ là nhỏ, và chuyển vị đất nền xung quanh sẽ nhỏ. Ngược lại, nếu hệ số an toàn gần bằng 1, biến dạng trong đất xung quanh hố đào sẽ là lớn, và chuyển vị đất nền sẽ lớn.
Do đó, dự đoán sự thực hiện một hố đào sâu bao hàm cả phân tích ổn định và biến dạng. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng ổn định có thể được đánh giá đủ chính xác khi sử dụng tính toán cân bằng giới hạn đơn giản. Tuy nhiên, biến dạng thì tương đối là khó dự đoán, và phương pháp phần tử hữu hạn thường được sử dụng cho mục đích khi chuyển vị đất nền là đặc biệt quan trọng. Vì vậy, phần khảo sát tổng quan này cung cấp một mô tả ngắn dự đoán chuyển vị đất nền liên kết với tường vây, kết cấu sẽ bao gồm 3 phần.
Phần thứ nhất là những tổng kết đáng kể của các nghiên cứu đã xuất bản trước đây. Phần thứ hai tổng hợp những bài báo mô tả những nghiên cứu bằng phân tích số của quá trình thực hiện số đào sâu. Và phần còn lại là những tổng kết dữ liệu của những nghiên cứu quan trắc hố đào sâu ở hiện trường. Ngoài ra, một mô tả ngắn về cách tính áp lực đất bên ngoài theo nhiều cách và việc sử dụng công cụ số để áp dụng trong tính toán.
TỔNG KẾT CÁC NGHIÊN CỨU ĐÃ XUẤT BẢN: Sau đây là những phương pháp thực nghiệm đã được đề nghị để dự đoán chuyển vị gây ra bởi hố đào của Peck (1969), Lambe (1970), và Clough and O’Rourke (1989 & 1990). Tổng kết nghiên cứu của Peck (1969) Peck (1969) là người đầu tiên đề xuất một phương pháp để dự đoán giải quyết chuyển vị do đào đất gây ra, dựa trên quan sát thực địa. Ông chủ yếu sử dụng các kết quả giám sát của các trường hợp lịch sử ở Chicago và Oslo và thành lập các đường cong quan hệ giữa độ lún và khoảng cách đến tường vây với nhiều loại đất khác nhau. 1Quan hệ giữa độ lún và khoảng cách đến tường vây Phương pháp Peck dựa trên kết quả giám sát của các trường hợp lịch sử trước năm 1969, hầu hết trong số đó sử dụng cọc ván thép hoặc cọc chống,tường chắn, hoàn toàn khác với việc thiết kế và xây dựng các phương pháp tiên tiến hơn.
trong các dự án hố đào sâu trong những năm gần đây, các đường cong quan hệ của Peck đề xuất không nhất thiết phải áp dụng cho tất cả các hố đào. Về cơ bản, những đường cong bắt nguồn từ phương pháp của Peck là tổng hợp kinh nghiệm đơn giản để áp dụng. Tổng kết nghiên cứu của O’Rourke (1981) O’Rourke nghiên cứu chuyển vị đất nền gây ra bởi hố đào sâu có giằng chống và những hoạt động thi công liên quan. Ông đã chỉ ra sự quan trọng của hoạt động chuẩn bị công trường lên chuyển vị đất nền, và cũng đã liệt kê ra sự bố trí lại và việc hạ mực nước ngầm, thi công tường vây, thi công hố móng sâu cũng như là những hoạt động chuẩn bị của công trường có thể gây ra chuyển vị đất nền.
Tác giả 12 cũng nghiên cứu quan hệ giữa hình dạng chuyển vị của tường hố đào và tỉ số chuyển vị ngang và đứng của mặt đất nền bằng cách xem xét dữ liệu thực hiện từ bảy trường hợp nghiên cứu. O’Rourke cũng kết luận từ những phân tích rằng tỉ số chuyển vị ngang trên chuyển vị đứng là 1.6 đối với biến dạng công sôn thuần túy và 0.6 đối với biến dạng phình trồi thuần túy của tường vây. Ngoài ra, O’Rourke cũng đã nêu ra những kết luận về tác động của độ cứng giằng chống, việc ứng suất trước của giằng chống, và sự tính toán thời gian của việc lắp đặt chống. Tác giả nhận xét rằng độ cứng hữu hiệu của chống có thể thấp hơn 2% so với độ cứng chuẩn (AE/L) do hiệu ứng nén tại vị trí liên kết và hiệu ứng uốn của giằng chống.
Tổng kết nghiên cứu của Clough and O’Rourke (1989 & 1990) Clough và O’Rourke nghiên cứu chuyển vị gây ra bởi hố đào sâu bằng cách xem xét dữ liệu từ trường hợp và những nghiên cứu trước đó. Các tác giả đã chia chuyển vị ra làm 2 loại. Thứ nhất là chuyển vị do quá trình đào thi công tường vây, và loại kia là chuyển vị gây ra bởi hoạt động thi công phụ. Họ đã kết luận từ những nghiên cứu của mình rằng chuyển vị do hố đào sâu có thể được dự đoán trong những phạm vi hợp lý nếu nguồn gốc chuyển vị được xem xét.
Clough và phương pháp O'Rourke của Clough và O'Rourke (1990) đề xuất nhiều loại hình đường bao của chuyển vị bề mặt hố đào gây ra cho đất khác nhau trên nhiều trường hợp. Theo các nghiên cứu của họ,đào trong cát hoặc đất sét cứng sẽ có xu hướng xuất hiện đường bao chuyển vị theo hình tam giác. Chuyển vị tối đa sẽ được tìm thấy gần tường chắn. Đào trong đất sét mềm đển trung bình sẽ tạo ra đường bao chuyển vị hình thang.
2 Quan hệ giữa độ lún và khoảng cách đến tường vây đối với từng loại đất (Clough and O’Rourke,1989 & 1990) a)cát b) sét cứng c)sét mềm 2. Tổng kết nghiên cứu của Ou and Yang(2000) : Nghiên cứu của Ou and Yang (2000) củng cố lại những nghiên cứu của Clough và O'Rourke (1990) qua quan trắc xác định độ lún của đất nền phía sau lưng tường chắn gây ra bởi hố đào sâu.đối với công trình Taipei Rapid Transit,so sánh độ lún đối với nhiều loại tường chắn. 3 Quan hệ giữa độ lún và khoảng cách đến tường vây(Ou and Yang,2000) 14 2. Tổng kết nghiên cứu của Ou and Hsieh : Ou và Hsieh (Ou và Hsieh, 2000;.
Ou et al, 2005) đã phát triển một phương pháp để dự đoán lún bề mặt trên cơ sở các nghiên cứu về các loại hình lún bề mặt, vùng ảnh hưởng, vị trí lún tối đa. Chúng tôi đề xuất giải quyết các đường cong cho các tường lửng và các loại lõm, như thể hiện trong hình 1. Dòng phân khúc ab trong hình 1.4a, với một độ dốc dốc hơn, đại diện cho các vùng ảnh hưởng chính, mà sẽ tạo ra một sự biến dạng góc lớn hơn như xa như các cấu trúc lân cận có liên quan. Vì vậy, nó là cần thiết để kiểm tra sự an toàn của các công trình lân cận miễn là giá trị của Svm là lớn.
Đoạn thẳng là đại diện cho các khu vực ảnh hưởng thứ cấp và có độ dốc ít dốc. Trong điều kiện bình thường, giải quyết trong SIZ có ít ảnh hưởng đến cấu trúc.4b, đường cong giải quyết các loại lõm có thể được mô tả trong ba đoạn thẳng. Phân khúc dòng abc đại diện cho các vùng ảnh hưởng và phân khúc dòng cd tiểu vùng ảnh hưởng thứ cấp. Ảnh hưởng riêng biệt của họ trên các cấu trúc là giống như mô tả trong các loại tường lửng.
4 Quan hệ giữa độ lún và khoảng cách đến tường vây(Ou and Hsieh,2000;Ou et al,2005) Theo phương pháp Ou và Hsieh, việc độ lún gây ra trong hố đào sau lưng tường chắn có thể được dự đoán dựa trên các các bước sau đây: 15 1.Ước tính chuyển vị ngang tối đa của tường chắn bằng Phương pháp phần tử hữu hạn, hoặc phương pháp dầm trên nền đàn hồi.Xác định loại chuyển vị: Tính toán tường chuyển vị ngang từ một trong hai phương pháp phần tử hữu hạn hoặc các tia trên các phương pháp nền đàn hồi. Sau đó, với xác định loại của giải quyết bề mặt đất. Hoặc chúng ta có thể tận dụng lợi thế của các kết quả khảo sát ở giai đoạn khai quật ban đầu bởi vì các loại hồ sơ giải quyết nổi lên ở giai đoạn đầu thường kéo dài đến giai đoạn cuối cùng.Ước tính giá trị của chuyển vị đứng trên cơ sở của mối quan hệ giữa chuyển vị lớn nhất và chuyển vị ngang lớn nhất. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN VỊ TRONG KHI THI CÔNG HỐ ĐÀO 3.
Loại đất là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện hố đào sâu Tất cả những tổng kết của bài báo chỉ ra rằng loại đất là yếu tố chủ yếu trong việc thực hiện hố đào sâu. Loại đất là quan trọng bởi vì việc thực hiện hố đào sâu được chi phối bởi sự tương tác giữa đất và hệ thống chống giữ. Clough and O’Rourke (1990) đã tóm tắt thông tin từ những trường hợp nghiên cứu trên chuyển vị đất nền lân cận tới hố đào và đã chỉ ra rằng chuyển vị phía sau hố đào có liên quan đến loại đất. Theo những ý chính sử dụng để phân tích nội lực của thanh chống của hố đào sâu và dựa trên cơ sở sự tương thích kết quả đo đạc, Clough and O’Rourke (1990) đã thiết lập những biểu đồ chuyển vị gây ra bởi việc thực hiện hố đào (hình 1.
Tổng hợp chuyển vị nền lân cận hố đào của các loại đất, theo hàm số khoảng cách từ cạnh hố đào (Clough and O’Rourke ,1990) Clough and O’Rourke (1990) đã thể hiện rằng kiểu chuyển vị bên cạnh hố đào bị ảnh hưởng bởi loại đất.7 thể hiện đường bao chuyển vị mà tác giả đề nghị để ước lượng kiểu chuyển vị cạnh hố đào do hoạt động đào và thi công chống trong đất cát và đất sét yếu. Ngoài ra, về biến dạng do hố đào trong sét yếu, Clough et O’Rourke đề nghị ước lượng biến dạng lớn nhất của tường chắn một mặt theo hệ số an toàn của hố đào dựa trên độ lún của đáy hố đào và mặt khác theo ước lượng độ cứng của kết cấu tường chắn (hình 1. 6 Biểu đồ chuyển vị quan trắc phía sau tường hố đào trong đất cát, theo Clough et O’Rourke (1990) 17 Hình 1-1 Hình 1. 7 Biểu đồ chuyển vị quan trắc phía sau tường hố đào trong sét yếu, theo Clough et O’Rourke (1990) Hình 1.
Biến dạng liên quan đến hố đào trong sét yếu, theo Clough et O’Rourke (1990) 18 Hình 1. 9 Biến dạng của tường vây (Chang,2006) 3.