Luận văn: Phân tích phương pháp tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh

Luận văn thạc sĩ phân tích tính sức chịu tải của cọc dựa trên dữ liệu nén tĩnh. So sánh và đánh giá các phương pháp tính toán phổ biến.

Trường đại học

Trường Đại học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn toàn diện Phân tích sức chịu tải cọc hiệu quả từ dữ liệu nén tĩnh

Việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh đóng vai trò then chốt trong ngành xây dựng hiện đại. Với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và sự gia tăng của các công trình nhà cao tầng, việc đảm bảo an toàn và tối ưu chi phí cho móng cọc trở nên cấp thiết. Sức chịu tải cọc cần được xác định chính xác để đảm bảo sự ổn định lâu dài của công trình. Tuy nhiên, công việc này luôn tiềm ẩn những thách thức đáng kể.

Luận văn của Cù Minh Hưng (2020) đã nhấn mạnh: "Việc dự đoán chính xác sức chịu tải cọc đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho công trình cũng như là tối ưu chi phí cho các phương án móng". Thí nghiệm nén tĩnh cọc là phương pháp kiểm chứng quan trọng, nhưng kết quả dự đoán thường có sai số lớn. Nhu cầu về một phương pháp dự đoán sức chịu tải cọc chính xác hơn, với sai số cho phép nhỏ hơn, là mục tiêu của nhiều nghiên cứu trong kỹ thuật nền móng.

Bài viết này đi sâu vào các khía cạnh quan trọng của quá trình phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh. Từ tổng quan về thí nghiệm nén tĩnh cọc, các vấn đề thường gặp, đến các phương pháp phân tích tiên tiến và ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ các phương pháp Davisson, phương pháp Chin, phương pháp Mazurkiewicz và các tiêu chuẩn như TCVN 10304:2014 sẽ giúp các kỹ sư đưa ra quyết định thiết kế tối ưu, nâng cao kiểm định chất lượng cọc và đảm bảo hệ số an toàn cho mọi công trình. Các đường cong tải trọng – lún cùng với việc phân tích biến dạng cọc sẽ là chìa khóa để đạt được sự chính xác mong muốn trong thiết kế móng cọc.

1.1. Móng cọc và tầm quan trọng của việc đánh giá sức chịu tải cọc

Trong kỹ thuật nền móng, móng cọc là giải pháp phổ biến cho các công trình tải trọng lớn hoặc điều kiện địa chất phức tạp. Khả năng chịu lực của mỗi cọc khoan nhồi hay cọc khác quyết định độ bền vững của toàn bộ kết cấu. Do đó, việc đánh giá sức chịu tải cọc một cách chính xác là ưu tiên hàng đầu. Nếu sức chịu tải cọc được đánh giá thấp hơn thực tế, công trình sẽ lãng phí tài nguyên và chi phí. Ngược lại, nếu đánh giá cao hơn, rủi ro mất an toàn và sự cố công trình sẽ gia tăng. Mục tiêu cuối cùng là xác định tải trọng cho phép của cọc, đảm bảo hệ số an toàn cần thiết theo các tiêu chuẩn thiết kế móng hiện hành. Sự hiểu biết sâu sắc về cơ học đất và tương tác giữa cọc và đất nền là nền tảng cho mọi phân tích. Luận văn của Cù Minh Hưng tập trung vào việc "dự đoán chính xác sức chịu tải cực hạn của cọc là một trong những vấn đề lớn cần nghiên cứu", thể hiện rõ tính cấp thiết của công việc này.

1.2. Thí nghiệm nén tĩnh cọc Nguyên lý và ứng dụng trong kỹ thuật nền móng

Thí nghiệm nén tĩnh cọc là phương pháp kiểm tra tại hiện trường nhằm xác định trực tiếp sức chịu tải cọc và mối quan hệ tải trọng – chuyển vị của cọc. Phương pháp này áp dụng tải trọng tĩnh ép dọc trục cọc, ghi nhận độ lún và biến dạng cọc tương ứng. Thí nghiệm được thực hiện ở hai giai đoạn chính: thăm dò thiết kế và kiểm tra chất lượng công trình. Ở giai đoạn thăm dò, nó cung cấp dữ liệu quan trọng để điều chỉnh thiết kế móng cọc và chọn công nghệ thi công. Ở giai đoạn kiểm tra chất lượng, nó xác nhận sức chịu tải cọc theo thiết kế và chất lượng thi công. Theo TCVN 9393 – 2012, quy trình thử nghiệm được tiêu chuẩn hóa để đảm bảo độ tin cậy. Dữ liệu thu được từ thí nghiệm nén tĩnh cọc là cơ sở không thể thiếu để phân tích kết quả thí nghiệm, từ đó đưa ra đánh giá sức chịu tải cọc chính xác nhất, phù hợp với các yêu cầu của kỹ thuật nền móngcơ học đất.

1.3. Đường cong tải trọng lún Chìa khóa hiểu biến dạng cọc và sức chịu tải cọc

Đường cong tải trọng – lún (P-S curve) là biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa tải trọng tác dụng lên đầu cọc (P) và độ lún tương ứng của đầu cọc (S) trong quá trình thí nghiệm nén tĩnh cọc. Biểu đồ này cung cấp thông tin trực quan về hành vi của cọc dưới tải trọng, từ giai đoạn đàn hồi đến giai đoạn dẻo và cuối cùng là trạng thái phá hoại. Phân tích hình dạng đường cong tải trọng – lún là bước cơ bản để xác định sức chịu tải giới hạntải trọng cho phép của cọc. Điểm uốn trên đường cong thường được xem là dấu hiệu của tải trọng giới hạn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, điểm uốn không rõ ràng, đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp đồ thị hoặc phương pháp dựa trên chuyển vị giới hạn. Việc hiểu rõ cách đọc và phân tích kết quả thí nghiệm từ đường cong tải trọng – lún là yếu tố then chốt để đánh giá sức chịu tải cọc một cách hiệu quả, nắm bắt được biến dạng cọc và các phản ứng của đất nền, từ đó đảm bảo hệ số an toàn cho công trình.

II. Thách thức lớn Sai số khi tính sức chịu tải cọc và giải pháp tối ưu

Việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh thường đối mặt với những thách thức đáng kể, dẫn đến sai số giữa kết quả dự đoán và thực tế. Các phương pháp tính toán sức chịu tải cọc truyền thống, dù là giải tích, phần tử hữu hạn hay kinh nghiệm, đều cần được kiểm chứng bằng thí nghiệm nén tĩnh cọc tại hiện trường. Tuy nhiên, "kết quả thường cho sai số khá lớn giữa kết quả dự đoán và kết quả thí nghiệm" (Cù Minh Hưng, 2020), đặt ra yêu cầu phải có một phương pháp dự đoán chính xác hơn. Những sai lệch này có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như sự phức tạp của cơ học đất, tính không đồng nhất của địa chất, hoặc hạn chế của các mô hình lý thuyết.

Một trong những khó khăn chính là định nghĩa và xác định tải trọng giới hạn hay sức chịu tải cực hạn của cọc. Thực tế, cọc có thể lún rất lớn mà chưa đạt đến trạng thái trượt rõ ràng, khiến đường cong tải trọng – lún không có điểm uốn rõ rệt. Điều này đòi hỏi các phương pháp phân tích phải có tính toán học và khách quan, tránh phụ thuộc vào nhận định chủ quan của người đọc biểu đồ. Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế móng như TCVN 10304:2014 một cách linh hoạt, kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm, là cần thiết để giảm thiểu sai số.

Giải pháp cho vấn đề này không chỉ nằm ở việc cải tiến các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc mà còn ở việc nâng cao chất lượng dữ liệu đầu vào thông qua các thiết bị đo biến dạng và phương pháp thí nghiệm tiên tiến. Việc kiểm định chất lượng cọc một cách chặt chẽ và xây dựng các mối tương quan cục bộ cho từng khu vực địa chất cũng đóng góp quan trọng vào việc tăng cường độ chính xác. Luận văn của Cù Minh Hưng hướng tới "đưa ra phương pháp tính toán dự đoán sức chịu tải cọc dựa trên chỉ số SPT", một hướng đi hứa hẹn để khắc phục các hạn chế hiện có và nâng cao độ tin cậy của phân tích kết quả thí nghiệm.

2.1. Hạn chế của các phương pháp tính toán sức chịu tải cọc truyền thống

Các phương pháp tính toán sức chịu tải cọc truyền thống thường dựa trên các giả thuyết đơn giản hóa về cơ học đất và hành vi của cọc. Phương pháp giải tích thường gặp khó khăn trong việc mô phỏng chính xác sự tương tác phức tạp giữa cọc và đất nền, đặc biệt là trong các lớp đất không đồng nhất. Các công thức kinh nghiệm, mặc dù tiện lợi, lại thường chỉ phù hợp với điều kiện địa chất và loại cọc cụ thể mà chúng được xây dựng, dẫn đến sai số lớn khi áp dụng ở các khu vực khác. Vấn đề chính là sự khác biệt giữa sức chịu tải thiết kế dựa trên lý thuyết và sức chịu tải thực tế cọc được xác định từ thí nghiệm nén tĩnh cọc. Sự thiếu vắng dữ liệu thực nghiệm đầy đủ và chính xác cũng làm hạn chế khả năng kiểm chứng và tinh chỉnh các mô hình lý thuyết. Theo Cù Minh Hưng (2020), "Kết quả thường cho sai số khá lớn giữa kết quả dự đoán và kết quả thí nghiệm vì vậy cần có một phương pháp dự đoán sức chịu tải cọc chính xác với sai số cho phép nhỏ hơn". Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc liên tục phát triển và cải tiến các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc.

2.2. Ảnh hưởng của đường cong tải trọng lún không rõ ràng đến tải trọng giới hạn

Một trong những khó khăn lớn khi phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh là sự không rõ ràng của điểm phá hoại trên đường cong tải trọng – lún (P-S curve). Trong nhiều trường hợp, đặc biệt với cọc dài cắm vào lớp đất tốt, biến dạng cọc có thể rất lớn mà không xuất hiện điểm uốn rõ rệt, tức là cọc chưa đạt đến trạng thái trượt hoàn toàn. Tình trạng này khiến việc xác định tải trọng giới hạn theo phương pháp đồ thị trở nên chủ quan và kém chính xác. Khi không có điểm uốn rõ ràng, người phân tích phải dựa vào các quy ước hoặc phương pháp gián tiếp để ước lượng sức chịu tải cực hạn của cọc. "Trong khi đó, yêu cầu về đảm bảo độ lún cho công trình cũng cần được xét tới trong việc xác định sức chịu tải cực hạn cho cọc" (Cù Minh Hưng, 2020). Điều này cho thấy cần có một cách tiếp cận toàn diện hơn, không chỉ dựa vào hình dạng đường cong mà còn xem xét đến các yếu tố biến dạng cọc và giới hạn chuyển vị cho phép của công trình, nhằm đảm bảo hệ số an toàn và tính ổn định. Các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc hiện đại cần phải giải quyết được thách thức này.

2.3. Giải pháp Nâng cao kiểm định chất lượng cọc và áp dụng tiêu chuẩn

Để khắc phục những thách thức trong việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, việc nâng cao kiểm định chất lượng cọc và áp dụng chặt chẽ các tiêu chuẩn thiết kế móng là cần thiết. Tiêu chuẩn TCVN 10304:2014 cung cấp một khung sườn tin cậy để xác định sức chịu tải cọc dựa trên thí nghiệm nén tĩnh cọc, có tính đến cả điều kiện đảm bảo độ lún và biến dạng đàn hồi của thân cọc. Việc tuân thủ quy trình thí nghiệm nén tĩnh cọc theo TCVN 9393-2012 giúp đảm bảo tính đồng nhất và tin cậy của dữ liệu thu được. Ngoài ra, việc sử dụng các thiết bị đo biến dạng tiên tiến, như các đầu đo strain gauge, giúp ghi nhận dữ liệu chi tiết về sự phân bố tải trọng dọc thân cọc và sức kháng mũi đơn vị, từ đó cung cấp cơ sở dữ liệu phong phú hơn cho việc phân tích kết quả thí nghiệm. Theo Cù Minh Hưng (2020), "phương pháp này [TCVN 10304:2014] phù hợp cho quy trình thử tải theo TCVN 9393:2012 và là một phương pháp tin cậy". Sự kết hợp giữa quy trình thí nghiệm chuẩn, thiết bị hiện đại và các tiêu chuẩn tính toán rõ ràng sẽ giúp giảm thiểu sai số và tăng cường độ chính xác khi đánh giá sức chịu tải cọc, đảm bảo hệ số an toàn cho thiết kế móng cọc.

III. Bí quyết thành công Các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc từ nén tĩnh

Việc xác định sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh đòi hỏi áp dụng nhiều phương pháp phân tích sức chịu tải cọc khác nhau, mỗi phương pháp có ưu điểm và phạm vi ứng dụng riêng. Khi đường cong tải trọng – lún không có điểm uốn rõ ràng, các phương pháp này trở thành công cụ không thể thiếu để ước lượng tải trọng giới hạn một cách khách quan. Mục tiêu là chuyển đổi dữ liệu thô từ thí nghiệm nén tĩnh cọc thành các thông số kỹ thuật hữu ích cho thiết kế móng cọckiểm định chất lượng cọc.

Các phương pháp đồ thị như phương pháp Davisson, phương pháp Chin, phương pháp De Beerphương pháp 80% của Brinch Hansen đều cung cấp cách tiếp cận khác nhau để giải thích đường cong tải trọng – lún. Mỗi phương pháp có thể phù hợp với một loại cọc hoặc quy trình gia tải cụ thể. Ví dụ, phương pháp Davisson được kiến nghị cho cọc đóng và quy trình thí nghiệm tốc độ nhanh (QM), trong khi phương pháp Chin có thể áp dụng cho cả QM và SM (tốc độ chậm). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng "Giá trị sức chịu tải giới hạn xác định theo phương pháp đồ thị khác nhau có thể khác nhau" (Cù Minh Hưng, 2020), do đó việc lựa chọn phương pháp phù hợp cần dựa trên kinh nghiệm và điều kiện cụ thể của dự án.

Ngoài các phương pháp đồ thị, việc xác định sức chịu tải cọc còn có thể dựa trên chuyển vị giới hạn cho phép hoặc tình trạng thực tế của cọc khi thí nghiệm. Tiêu chuẩn TCVN 10304:2014 đưa ra một cách tiếp cận toàn diện, có tính đến độ lún giới hạn trung bình của công trình và biến dạng đàn hồi của thân cọc, giúp xác định sức chịu tải cọc một cách tin cậy hơn. Việc kết hợp các phương pháp này, cùng với sự hiểu biết sâu sắc về cơ học đất và đặc điểm biến dạng cọc, là chìa khóa để đưa ra đánh giá sức chịu tải cọc chính xác, đảm bảo hệ số an toàn cần thiết cho công trình.

3.1. Phương pháp Davisson và phương pháp Chin Cách xác định tải trọng giới hạn

Phương pháp Davisson (1972) là một trong những phương pháp phân tích sức chịu tải cọc phổ biến, đặc biệt cho cọc đóng. Phương pháp này xác định tải trọng giới hạn dựa trên một giới hạn độ lún bù trừ, bao gồm độ lún đàn hồi của cọc và một phần độ lún dẻo của đất. Công thức tính toán độ lún giới hạn của Davisson là 4 + D/120 + QL/EA (mm), với Q là tải trọng, L là chiều dài cọc, A là diện tích mặt cắt ngang và E là mô đun đàn hồi vật liệu cọc. Điểm giao của đường cong P-S với đường thẳng offset này chính là sức chịu tải cực hạn của cọc. Ngược lại, phương pháp Chin (1970) tiếp cận bằng cách xây dựng mối quan hệ giữa độ lún (S) và tỷ lệ độ lún trên tải trọng (S/Q). Đường quan hệ này thường là một đường thẳng, và từ độ dốc của đường thẳng này, có thể ngoại suy để xác định sức chịu tải cực hạn của cọc. "Phương pháp này được dùng cho cả thí nghiệm QM và thí nghiệm SM" (Cù Minh Hưng, 2020), cho thấy tính linh hoạt của nó. Cả hai phương pháp này đều cung cấp cách tiếp cận khách quan để phân tích kết quả thí nghiệm từ đường cong tải trọng – lún, giúp kỹ sư đánh giá sức chịu tải cọc một cách hiệu quả.

3.2. Tiêu chuẩn thiết kế móng TCVN 10304 2014 và công thức tính sức chịu tải cọc

Tiêu chuẩn thiết kế móng TCVN 10304:2014 là một tài liệu quan trọng trong việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh tại Việt Nam. Tiêu chuẩn này cung cấp quy định rõ ràng về cách xác định sức chịu tải cực hạn của cọc (Rc,u). Theo TCVN 10304:2014, nếu tải trọng thử tĩnh đạt đến mức làm cho độ lún 'S' của cọc tăng liên tục mà không tăng thêm tải (với S ≤ 20mm), thì tải trọng cấp trước đó được lấy làm Rc,u. Trong các trường hợp khác, Rc,u được xác định ứng với độ lún S tính theo công thức: S = Sgh + Se, trong đó Sgh là độ lún giới hạn trung bình của móng, Se là biến dạng đàn hồi thực tế của cọc. "Phương pháp xác định sức chịu tải cực hạn của cọc theo TCVN 10304:2014 có phân chia ra các trường hợp tính toán rõ ràng, tải trọng cực hạn được xác định có kèm theo điều kiện đảm bảo độ lún cho cọc cũng như công trình, hơn nữa độ lún giới hạn có kể đến độ lún đàn hồi của thân cọc. Do đó, đây là một phương pháp tin cậy" (Cù Minh Hưng, 2020). Việc áp dụng tiêu chuẩn này giúp đảm bảo hệ số an toàn và độ tin cậy trong thiết kế móng cọc.

3.3. Phương pháp Mazurkiewicz và phương pháp De Beer Giải mã biến dạng cọc phức tạp

Ngoài phương pháp Davissonphương pháp Chin, phương pháp Mazurkiewiczphương pháp De Beer cũng là những công cụ quan trọng trong việc phân tích sức chịu tải cọc, đặc biệt khi đường cong tải trọng – lún thể hiện sự biến dạng cọc phức tạp. Phương pháp De Beer (1967) sử dụng biểu đồ logarit của mối quan hệ tải trọng – chuyển vị. Các giá trị trên biểu đồ được thể hiện bởi hai đường thẳng, và giao điểm của chúng được xác định là tải trọng phá hoại. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế nếu đường cong tải trọng – lún không có điểm gãy khúc rõ ràng. Trong khi đó, phương pháp Mazurkiewicz cung cấp một cách tiếp cận khác để xác định tải trọng giới hạn bằng cách vẽ đồ thị nghịch đảo độ lún theo nghịch đảo tải trọng. Các phương pháp này được phát triển để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về hành vi của cọc, giúp kỹ sư đánh giá sức chịu tải cọc ngay cả trong điều kiện đất nền không đồng nhất hoặc khi đường cong tải trọng – lún không điển hình. Việc nắm vững các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc này là cần thiết để phân tích kết quả thí nghiệm một cách toàn diện và chính xác.

IV. Khám phá sâu Thí nghiệm nén tĩnh cọc Osterberg và thiết bị đo biến dạng

Để nâng cao độ chính xác trong việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, các phương pháp thí nghiệm nén tĩnh cọc hiện đại đã được phát triển, trong đó nổi bật là thí nghiệm Osterberg và việc sử dụng thiết bị đo biến dạng. Phương pháp truyền thống thường gặp khó khăn với cọc có sức chịu tải cọc lớn hoặc mặt bằng chật hẹp, do yêu cầu hệ phản lực lớn. Thí nghiệm Osterberg giải quyết những hạn chế này, mang lại hiệu quả và độ an toàn cao hơn, đặc biệt cho cọc khoan nhồi đường kính lớn.

Thí nghiệm Osterberg, được giáo sư Jorj Osterberg phát minh năm 1984, sử dụng một hộp tải (O-cell) đặt sẵn trong cọc để tạo ra tải trọng tĩnh. Hộp tải này hoạt động hai chiều: đẩy phần cọc phía trên lên và phần cọc phía dưới xuống, giúp phân tách được thành phần sức kháng hôngsức kháng mũi của cọc. "Ưu điểm của thí nghiệm Osterberg: Hiệu quả, đơn giản, thời gian chuẩn và thực hiện ngắn; Không cần thiết kế vật liệu chịu tải thí nghiệm lớn cho cọc thử; Có thể tiến hành ở những vùng đất chất hẹp hoặc địa hình như sôn biển" (Cù Minh Hưng, 2020). Khả năng thử tải rất lớn của phương pháp này giúp đánh giá sức chịu tải cọc hiệu quả hơn cho các dự án quy mô lớn. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ hiệu quả khi cọc có đủ cả hai thành phần sức kháng hông và sức kháng mũi, với giá trị tương đương nhau.

Kết hợp với thí nghiệm Osterberg là việc sử dụng thiết bị đo biến dạng (strain gauge) và thiết bị đo co ngắn cọc. Các thiết bị này được lắp đặt dọc theo chiều dài cọc, ghi nhận biến dạng cọc khi chịu tải trọng. Dữ liệu từ các cảm biến này cho phép phân tích kết quả thí nghiệm chi tiết về sự phân bố tải trọng trong thân cọc, chuyển vị mũi cọc và chuyển vị dọc thân cọc. Đây là cơ sở dữ liệu cực kỳ quan trọng để xây dựng các tương quan giữa sức chịu tải cọc với các chỉ số thí nghiệm hiện trường như SPT, từ đó cải thiện độ chính xác của phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnhkiểm định chất lượng cọc.

4.1. Nguyên lý thí nghiệm Osterberg và ưu nhược điểm cho cọc khoan nhồi

Thí nghiệm Osterberg được coi là một bước tiến quan trọng trong thí nghiệm nén tĩnh cọc, đặc biệt phù hợp với cọc khoan nhồi có đường kính lớn. Nguyên lý hoạt động dựa trên hộp tải O-cell đặt bên trong cọc, tạo ra tải trọng hai chiều. Hệ thống thủy lực đẩy một phần cọc lên trên (phá vỡ ma sát hông phần trên) và một phần cọc xuống dưới (phá vỡ sức kháng mũi và ma sát hông phần dưới). Ưu điểm chính bao gồm khả năng thử tải trọng rất lớn (đã đạt tới 44.000 tấn), không yêu cầu hệ phản lực cồng kềnh, phù hợp với mặt bằng chật hẹp hoặc địa hình phức tạp, và có thể phân tách trực tiếp thành phần sức kháng hôngsức kháng mũi. Điều này giúp đánh giá sức chịu tải cọc một cách toàn diện hơn. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm: không hiệu quả cho cọc chống có sức kháng bên nhỏ, và yêu cầu sức kháng hông và sức kháng mũi phải tương đương để đạt tải trọng tới hạn tối đa. "Thí nghiệm Osterberg không những dự báo được sức chịu tải mà còn phân tách được thành phần bên và mũi của cọc" (Cù Minh Hưng, 2020), đây là một giá trị lớn mà phương pháp truyền thống khó đạt được.

4.2. Vai trò của thiết bị đo biến dạng và đo co ngắn cọc trong kiểm định chất lượng cọc

Để tối ưu hóa phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, việc sử dụng thiết bị đo biến dạng (strain gauge) và thiết bị đo co ngắn cọc là không thể thiếu. Các đầu đo biến dạng được lắp đặt dọc theo chiều dài cọc, ghi nhận sự co ngắn hoặc giãn dài của vật liệu cọc dưới tác dụng của tải trọng. Thông qua các tín hiệu điện tử, thiết bị này chuyển đổi biến dạng cọc thành dữ liệu có thể định lượng được. Dữ liệu này sau đó được sử dụng để tính toán lực tác dụng tại các vị trí khác nhau dọc thân cọc, từ đó xác định ma sát hông đơn vị (fs) và sức kháng mũi đơn vị (qb). Cù Minh Hưng (2020) chỉ ra công thức: fi, i-1 = (Pi – Pi-1)/Sxq để tính ma sát đơn vị. Thiết bị đo co ngắn cọc, như các sản phẩm của Geokon, cũng đóng vai trò tương tự trong việc ghi nhận chuyển vị tổng thể. Những dữ liệu chi tiết này là cơ sở quan trọng để phân tích kết quả thí nghiệm sâu hơn, giúp kiểm định chất lượng cọc, hiểu rõ sự phân bố tải trọng và biến dạng cọc, từ đó cải thiện độ chính xác của đánh giá sức chịu tải cọcthiết kế móng cọc.

4.3. Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT Tương quan với ma sát hông đơn vị và sức kháng mũi đơn vị

Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT (Standard Penetration Test) là một thí nghiệm hiện trường phổ biến, cung cấp chỉ số N-SPT, một thông số quan trọng trong cơ học đất. Mặc dù không trực tiếp đo sức chịu tải cọc, chỉ số N-SPT được sử dụng rộng rãi để xây dựng các tương quan kinh nghiệm với ma sát hông đơn vị (fs) và sức kháng mũi đơn vị (qb). Các nghiên cứu, bao gồm cả luận văn của Cù Minh Hưng (2020), đã tập trung vào việc thiết lập mối quan hệ giữa fs, qb với N-SPT cho các loại đất khác nhau (đất dính, đất rời). Chẳng hạn, "kết quả phân tích cho thấy rằng fs =2.8N, giá trị trung bình fs=3.5N, đối với đất dính fs=3.8N, đối với đất rời fs =3" (Cù Minh Hưng, 2020). Việc sử dụng các thiết bị đo biến dạng trong thí nghiệm nén tĩnh cọc giúp thu thập dữ liệu fs và qb thực tế, từ đó tinh chỉnh các mối tương quan này. Điều này cho phép dự đoán sức chịu tải cọc một cách hiệu quả hơn, đặc biệt trong giai đoạn thiết kế ban đầu khi chưa có dữ liệu thí nghiệm nén tĩnh cọc đầy đủ. Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT đóng vai trò bổ trợ đắc lực cho việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, giúp đưa ra đánh giá sức chịu tải cọc sơ bộ và kiểm tra chéo kết quả.

V. Ứng dụng thực tiễn Đánh giá sức chịu tải cọc qua dữ liệu nén tĩnh hiện trường

Việc đánh giá sức chịu tải cọc dựa trên dữ liệu nén tĩnh hiện trường là bước quan trọng để kiểm chứng và tối ưu hóa thiết kế móng cọc. Các dự án thực tế tại TP. Hồ Chí Minh đã cung cấp tập hợp dữ liệu quý giá từ thí nghiệm nén tĩnh cọc, bao gồm cả các thí nghiệm có gắn thiết bị đo biến dạng để xác định ma sát hông đơn vị (fs) và sức kháng mũi đơn vị (qb). Việc tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm này cho phép xây dựng các mối tương quan cục bộ giữa fs, qb với chỉ số N-SPT, từ đó đưa ra các phương pháp tính toán sức chịu tải cọc có độ chính xác cao hơn cho khu vực địa chất cụ thể.

Luận văn của Cù Minh Hưng (2020) đã sử dụng kết quả thí nghiệm nén tĩnh của 12 cọc khoan nhồi có gắn strain gauge để đo fs và qb. Dữ liệu này được tổng hợp theo chỉ số N-SPT của đất, thiết lập tương quan cho đất dính và đất rời. Các kết quả này sau đó được áp dụng để dự đoán sức chịu tải cực hạn của cọc (Rc,u) cho 5 cọc khoan nhồi tại 5 dự án khác nhau ở TP. Hồ Chí Minh, đã được thử tĩnh nhưng không đo ma sát. So sánh kết quả dự đoán với kết quả thử tĩnh thực tế cho thấy "Sai số trung bình của kết quả dự đoán là nhỏ hơn kết quả thử tĩnh 10%" (Cù Minh Hưng, 2020), chứng tỏ hiệu quả của phương pháp này.

Ngoài ra, luận văn còn so sánh sức chịu tải cọc dự đoán theo TCVN 10304:2014 với kết quả thử tĩnh. Sự so sánh này cho thấy "kết quả dự đoán theo công thức nhật bản luôn cho kết quả sức chịu tải cực hạn của cọc lớn hơn 20% so với kết quả thử tĩnh thực tế, còn phương pháp theo công thức của Meyerhof cho kết quả nhỏ hơn rất nhiều so với thử tĩnh thực tế nhỏ hơn 40%" (Cù Minh Hưng, 2020). Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp phân tích sức chịu tải cọc phù hợp với điều kiện địa chất và tiêu chuẩn thiết kế móng của từng khu vực, nhằm đảm bảo hệ số an toàn tối ưu cho thiết kế móng cọckiểm định chất lượng cọc.

5.1. Tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm nén tĩnh cọc thực tế

Việc tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm từ nén tĩnh cọc thực tế là nền tảng để xây dựng các mô hình dự đoán sức chịu tải cọc đáng tin cậy. Dữ liệu từ các dự án tại TP. Hồ Chí Minh, bao gồm 12 cọc khoan nhồi có gắn thiết bị đo biến dạng, đã cung cấp thông tin chi tiết về ma sát hông đơn vị (fs) và sức kháng mũi đơn vị (qb) qua từng cấp tải. Các biểu đồ quan hệ tải trọng – lún và phân bố tải trọng theo chiều sâu cọc là cơ sở trực quan để đánh giá sức chịu tải cọc. Cù Minh Hưng (2020) đã thu thập dữ liệu từ các dự án như Lakeside, Ascent Plaza, Lim Tower III, Saigon-Bason, Hilton, và Vietcombank, Lim Tower, Friendship Tower, Satra Tax-Plaza, Landmark Tower, Khu phức hợp Tân Cảng. "Đây là dữ liệu quan trọng trong nghiên cứu này" (Cù Minh Hưng, 2020). Việc phân tích các dữ liệu này giúp nhận diện các đặc điểm địa chất ảnh hưởng đến sức chịu tải cọc và hiệu chỉnh các công thức kinh nghiệm, từ đó nâng cao độ chính xác của phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh.

5.2. Xây dựng tương quan giữa ma sát hông đơn vị và chỉ số N SPT

Một trong những đóng góp quan trọng của luận văn Cù Minh Hưng là việc xây dựng mối tương quan giữa ma sát hông đơn vị (fs) và chỉ số N-SPT. Dữ liệu fs được đo trực tiếp từ các thiết bị đo biến dạng (strain gauge) trên 12 cọc thử tĩnh, sau đó được tổng hợp theo chiều sâu và giá trị N-SPT của từng lớp đất. Mối tương quan này được thiết lập riêng cho đất dính và đất rời. "Kết quả phân tích cho thấy rằng fs =2.8N, giá trị trung bình fs=3.5N, đối với đất dính fs=3.8N, đối với đất rời fs =3" (Cù Minh Hưng, 2020). Đây là kết quả thực nghiệm quan trọng, cung cấp cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để dự đoán sức chịu tải cọc trong điều kiện địa chất cụ thể của TP. Hồ Chí Minh. Việc có được các tương quan cục bộ giúp giảm thiểu sai số khi áp dụng các công thức kinh nghiệm chung, từ đó cải thiện kiểm định chất lượng cọc và tối ưu hóa thiết kế móng cọc. Mối quan hệ giữa fs và N-SPT là một phần thiết yếu của cơ học đất ứng dụng, giúp phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh một cách hiệu quả hơn.

5.3. So sánh kết quả dự đoán với tải trọng cho phép thực tế và các tiêu chuẩn thiết kế móng

Việc so sánh kết quả dự đoán sức chịu tải cực hạn của cọc với tải trọng cho phép thực tế từ thí nghiệm nén tĩnh cọc là bước kiểm chứng cuối cùng về độ tin cậy của phương pháp. Luận văn đã áp dụng các kết quả nghiên cứu về fs và qb để dự đoán Rc,u cho 5 cọc khoan nhồi ở các dự án khác nhau và so sánh chúng với dữ liệu thử tĩnh. Kết quả cho thấy "Sai số trung bình của kết quả dự đoán là nhỏ hơn kết quả thử tĩnh 10%" (Cù Minh Hưng, 2020). Bên cạnh đó, việc so sánh với các tiêu chuẩn thiết kế móng khác như TCVN 10304:2014 và công thức của Meyerhof cũng được thực hiện. Sự so sánh này không chỉ đánh giá tính chính xác của phương pháp đề xuất mà còn làm nổi bật những hạn chế của các phương pháp hiện hành khi áp dụng cho điều kiện địa chất cụ thể. Việc này cung cấp cái nhìn toàn diện về phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, giúp kỹ sư lựa chọn phương pháp phân tích sức chịu tải cọc phù hợp nhất để đảm bảo hệ số an toàn cho công trình và tối ưu hóa thiết kế móng cọc.

VI. Tổng kết và Tương lai Nâng cao độ chính xác phân tích sức chịu tải cọc

Quá trình phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh là một khâu không thể thiếu trong kỹ thuật nền móng, đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh tế cho các công trình. Bài viết đã trình bày tổng quan về thí nghiệm nén tĩnh cọc, các phương pháp xác định sức chịu tải cọc, những thách thức trong việc đánh giá sức chịu tải cọc và các giải pháp tiên tiến như thí nghiệm Osterberg cùng với việc sử dụng thiết bị đo biến dạng.

Các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc như Davisson, Chin, và Mazurkiewicz, kết hợp với các tiêu chuẩn thiết kế móng như TCVN 10304:2014, cung cấp khung sườn lý thuyết vững chắc. Tuy nhiên, "thực tế có rất nhiều phương pháp dự đoán sức chịu tải cực hạn của cọc khác nhau... Kết quả thường cho sai số khá lớn giữa kết quả dự đoán và kết quả thí nghiệm" (Cù Minh Hưng, 2020). Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc liên tục cải tiến và kiểm chứng các phương pháp này bằng dữ liệu thực tế.

Từ dữ liệu nén tĩnh hiện trường, đặc biệt là các thí nghiệm có gắn strain gauge để đo ma sát hông đơn vị (fs) và sức kháng mũi đơn vị (qb), có thể xây dựng các mối tương quan cục bộ với chỉ số N-SPT, giảm thiểu sai số trong dự đoán. "Sai số trung bình của kết quả dự đoán là nhỏ hơn kết quả thử tĩnh 10%" (Cù Minh Hưng, 2020) là một kết quả đáng khích lệ, cho thấy tiềm năng của phương pháp bán thực nghiệm. Tương lai của việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh sẽ tập trung vào việc tích hợp sâu hơn các công nghệ đo đạc tiên tiến, phát triển các mô hình dự đoán thông minh dựa trên dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo, cùng với việc hoàn thiện các tiêu chuẩn thiết kế móng để phản ánh chính xác hơn điều kiện địa chất đa dạng. Việc nâng cao kiểm định chất lượng cọc và liên tục nghiên cứu các biến dạng cọc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành xây dựng.

6.1. Tóm tắt các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc chính

Việc phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh dựa trên nhiều phương pháp đa dạng. Các phương pháp đồ thị như Davisson, Chin, De Beer, và Brinch Hansen cung cấp cách diễn giải đường cong tải trọng – lún để xác định tải trọng giới hạn. Mỗi phương pháp có đặc điểm riêng về cách xác định điểm phá hoại hoặc giới hạn chuyển vị. Ví dụ, phương pháp Davisson sử dụng đường thẳng offset, trong khi phương pháp Chin dựa vào mối quan hệ S-S/Q. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn thiết kế móng như TCVN 10304:2014 cung cấp quy định cụ thể, có tính đến cả biến dạng đàn hồi của cọc và yêu cầu về độ lún của công trình, nhằm đảm bảo hệ số an toàn. Các thiết bị đo biến dạngthí nghiệm Osterberg hiện đại đã nâng cao khả năng thu thập dữ liệu về ma sát hông đơn vịsức kháng mũi đơn vị, làm giàu thêm cơ sở để phân tích kết quả thí nghiệm. Tất cả các phương pháp này đều nhằm mục đích đưa ra đánh giá sức chịu tải cọc chính xác nhất, phục vụ cho thiết kế móng cọc.

6.2. Kiến nghị và hướng nghiên cứu tương lai cho thiết kế móng cọc

Để liên tục cải thiện độ chính xác của phân tích tính sức chịu tải cọc từ dữ liệu nén tĩnh, một số kiến nghị và hướng nghiên cứu tương lai cần được quan tâm. Thứ nhất, cần tiếp tục thu thập và tổng hợp dữ liệu thí nghiệm nén tĩnh cọc có gắn thiết bị đo biến dạng từ nhiều dự án hơn, đa dạng về địa chất và loại cọc, để xây dựng các mối tương quan fs-NSPT và qb-NSPT mang tính đại diện và tin cậy hơn. Thứ hai, phát triển các phương pháp phân tích sức chịu tải cọc dựa trên trí tuệ nhân tạo và học máy để tự động hóa quá trình phân tích kết quả thí nghiệm và giảm thiểu yếu tố chủ quan. Thứ ba, tích hợp kết quả từ các thí nghiệm khác như nén động cọc (PDA) để có cái nhìn toàn diện hơn về hành vi của cọc. Cuối cùng, cần thường xuyên cập nhật và điều chỉnh các tiêu chuẩn thiết kế móng để phản ánh những tiến bộ khoa học và thực tiễn công nghệ mới nhất trong cơ học đấtkỹ thuật nền móng. "Việc tính toán và dự đoán chính xác sức chịu tải cực hạn của cọc là một trong những vấn đề lớn cần nghiên cứu" (Cù Minh Hưng, 2020), mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu đột phá.

01/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: THÍ NGHIỆM NÉN TĨNH CỌC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG SỨC CHỊU TẢI CỌC 1.1 Thí nghiệm nén tĩnh cọc 1. Tổng quan về thí nghiệm nén tĩnh cọc Phương pháp thử tải tĩnh cho cọc được hình thành từ năm 1965, với mẫu thử đầu tiên được thực hiện vào cuối thế kỉ 20 thông qua sự hợp tác từ 2 nhóm nghiên cứu đến từ 2 quốc gia là “Berminghammer Foundation Equipment” đến từ Canada và “TNO Building Research of the Netherlands” đến từ Hà Lan. Thí nghiệm cọc bằng phương pháp tải trọng tĩnh ép dọc trục có thể được thực hiện ở các giai đoạn: thăm dò thiết kế và kiểm tra chất lượng công trình. - Thí nghiệm nén tĩnh cọc ở giai đoạn thăm dò thiết kế được tiến hành trước khi thi công cọc đại trà nhằm xác định các số liệu cần thiết kế về cường độ, biến dạng và mối quan hệ tải trọng - chuyển vị của cọc làm cơ sơ cho thiết kế hoặc điều chỉnh đồ án thiết kế, chọn thiết bị và công nghệ thi công cọc phù hợp.

- Thí nghiệm nén tĩnh cọc ở giai đoạn kiểm tra chất lượng công trình được tiến hành trong thời gian thi công hoặc sau khi thi công xong cọc nhằm kiểm tra sức chịu tải của cọc theo thiết kế và chất lượng thi công cọc. Nguyên tắc thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành bằng phương pháp dùng tải trọng tĩnh ép dọc trục cọc sao cho dưới tác dụng của lực ép, cọc lún sâu thêm vào đất nền. Tải trọng tác dụng lên đầu cọc được thực hiện bằng kích thủy lực với hệ phản lực là dàn chất tải, neo hoặc kết hợp cả hai. Các số liệu về tải trọng, chuyển vị, biến dạng… thu được trong quá trình thí nghiệm là cơ sở để phân tích đánh giá sức chịu tải và mối quan hệ tải trọng – chuyển vị của cọc trong đất nền.

4 “Nguồn: Internet” Hình 1.1: Hệ phản lực và dàn chất tải “Nguồn: Internet” Hình 1.2: Hệ thống bơm, kích thủy lực “Nguồn: Vũ Công Ngự, 2004” Hình 1.3 Sơ đồ thí nghiệm 5 Tải trọng tác dụng thường được áp dụng theo một loạt gia số phù hợp với tiêu chuẩn hoặc được xác định trước từ đặc tính gia tải cho mỗi dự án. Mỗi sự gia tăng tải trọng được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc cho đến khi tỷ lệ chuyển vị đầu cọc nhỏ hơn giá trị được chỉ định. Ở Việt Nam thì việc thử tĩnh cọc để xác định sức chịu tải phải được tuân theo tiêu chuẩn TCVN 9393 – 2012: Cọc – Phương pháp thử nghiệm hiện trường bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục. Theo truyền thống thì việc thử tải tĩnh được thực hiện bởi một hệ thống chống đỡ lại tải trọng hoặc bằng cọc neo hoặc thiết bị neo vào đất, do đó phương pháp này sẽ gặp khó khăn đối với những cọc có sức chịu tải lớn hoặc mặt bằng chật hẹp.

Những năm gần đây, phương pháp Osterberg load cell (O-cell) được sử dụng rộng rãi cho việc thử tải tĩnh cho các cọc bê tông cốt thép đổ tại chỗ có đường kính lớn. Thí nghiệm Osterberg Phương pháp thí nghiệm Osterberg lần đầu tiên được áp dụng vào năm 1984 được phát minh bởi giáo sư Jorj Osterberg (Đại học Northwestern, Mỹ). Theo thông tin từ công ty Loadtest (độc quyền về thí nghiệm Osterberg), khả năng thử tải lớn nhất của thí nghiệm Osterberg là 72,100 kips (~ 32,000 T) thực hiện vào năm 2010 tại St. Louis, Missouri và theo thông tin mới nhất Loadtest có thể làm thí nghiệm Osterberg với sức chịu tải là 100,000 kips (~44,000T).

Nguyên lý hoạt động của phương pháp osterberg: Tải trọng tĩnh dùng để thử được tạo ra bởi hộp tải (Osterberg Cell) đặt sẵn trong cọc khi thi công. Hộp tải thực chất là một bộ kích thủy lực hoạt động nhờ áp lực của bơm thủy lực đặt trên mặt đất truyền theo ống dẫn vào trong hộp tải. Hộp tải hoạt động theo 2 chiều đối nhau : đẩy phần cọc trên hộp tải lên trên phá sức kháng cắt của đất nền quanh thân cọc của phần cọc này; đẩy phần cọc dưới hộp tải xuống dưới phá sức kháng nén của đất nền dưới mũi cọc cùng với sức kháng cắt của đất nền quanh thân cọc của phần cọc này. Đối trọng dùng để thử sức kháng nén của đất nền dưới mũi cọc chính là tải trọng cọc và sức kháng cắt của đất nền quanh thân cọc của phần cọc trên hộp tải; còn đối trọng dùng để thử sức kháng cắt của đất nền quanh thân cọc của phần cọc trên hộp tải chính là sức kháng nén của đất nền dưới mũi cọc cùng với sức kháng cắt của đất nền quanh thân cọc của phần cọc dưới hộp tải.

6 “Nguồn: Bowles, 2002” Hình 1.4 So sánh nguyên lý tác dụng của các phương pháp nén tĩnh thông thường và phương pháp osterberg “Nguồn: Nguyễn Hữu Đẩu, 2004” Hình 1.5 Hộp Osterberg 7 “Nguồn: Nguyen, M.6 Sơ đồ bố trí thiết bị thí nghiệm Trong hình 1.6, đối với thí nghiệm nén tĩnh truyền thống, sức chịu tải của cọc gồm sức kháng ma sát bên F và sức kháng mũi Q sẽ cân bằng với tải thí nghiệm P. Do vậy để thí nghiệm được ta phải có tổng sức nâng của hệ kích lớn hơn sức chịu tải dự kiến. Đối với thí nghiệm Osterberg để thí nghiệm được ta chỉ cần tổng sức nâng của hệ kích lớn hơn một nửa sức chịu tải dự kiến. Sức chịu tải của cọc có thể được xác định bằng cách sử dụng đường cong tải trọng – độ lún đã được quy đổi (tương tự đường cong từ thí nghiệm nén tĩnh thông thường).

 Ưu điểm của thí nghiệm Osterberg: - Hiệu quả, đơn giản, thời gian chuẩn và thực hiện ngắn 8 - Không cần thiết kế vật liệu chịu tải thí nghiệm lớn cho cọc thử - Có thể tiến hành ở những vùng đất chất hẹp hoặc địa hình như sôn biển - Có thể thử nhiều cọc một lúc với cùng một thiết bị. Tránh được ảnh hưởng của đối trọng hay cọc neo tới mối quan hệ giữa đất và cọc thí nghiệm như trong phương pháp thử tĩnh - Mức độ an toàn cao trong khi thử - Thí nghiệm Osterberg không những dự báo được sức chịu tải mà còn phân tách được thành phần bên và mũi của cọc - Với cọc xiên thí nghiệm osterberg dễ dàng thực hiện.  Khuyết điểm của thí nghiệm Osterberg - Không thể sử dụng phương pháp Osterberg cho cọc chống có sức kháng bên nhỏ. - Thí nghiệm chỉ hiệu quả khi sức chịu tải phải có đủ 2 thành phần sức kháng hông và sức kháng mũi, và tốt nhất là 2 thành phần này phải có giá trị tương đương nhau.

Nếu không thõa mãn điều kiện này, tải thí nghiệm sẽ nhỏ và không xác định được sức chịu tải tới hạn. - Ngoài ra, trong quá trình thi công dễ gặp rủi ro các thiết bị đo đạc :  Trong quá trình cẩu lắp, các thanh truyền dễ bị gãy  Ống bao bên ngoài thanh truyền bị hở, nước bê tông (trong quá trình đổ bê tông) lọt vào trong và làm thanh truyền không tự do nữa.  Đường dẫn áp lực bị rách hở trong quá trình cẩu lắp, hàn buộc. Hiện nay ở Việt Nam các thí nghiệm Osterberg và thí nghiệm nén tĩnh truyền thống có gắn các đầu đo biến dạng để đo ma sát bên cũng như độ lún đàn hồi của cọc đang dần trở nên phổ biến.

Đây cũng là cơ sở để thành lập các tương quan cũng như các phương pháp xác định sức chịu tải cọc ngày càng chính xác hơn. Thiết bị đo biến dạng và đo co ngắn cọc 1. Thiết bị đo biến dạng Thiết bị đo biến dạng được lắp đặt trong bê tông dọc theo chiều dài cọc với mục đích xác định biến dạng của cọc khi chịu tải trọng nén. Thiết bị đo biến dạng 9 bao gồm một cảm biến biến dạng chuyển đổi các đại lượng vật lý thành các tín hiệu đầu ra phù hợp, hệ thống truyền tin hiện và hệ thống thu nhận tín hiệu.

Hiện nay, một trong những đầu đo biến dạng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới là đầu đo được sản xuất bởi công ty Geokon, Mỹ. Nguyên tắc hoạt động cơ bản của đầu đo là dựa trên sự rung động của sợi dây bên trong đầu đo, Các sóng phản hồi của sự rung động này diễn ra liên tục trong suốt quá trình đo. Sự khác nhau của các sóng này là do sự căng hoặc trùng của sợi dây và cũng chính là sự biến dạng của đầu đo, đồng nghĩa với sự biến dạng của cọc. Các dây dẫn được buộc chặt dọc theo thép chủ (nằm giữa hai thanh thép chủ) và được kết nối vào hộp đọc tự động lấy số liệu trong suốt quá trình thí nghiệm.

Giả thiết lực tác dụng không bị thất thoát giữa đầu cọc và vị trí đo 1 để tính toán => P=P1 Trong đó: P: Lực tác dụng tại vị trí đầu cọc P1: Lực tại vị trí đầu đo số 1 Lực kháng dọc trục tại mỗi vị trí phân bố tải trọng được tính theo công thức như sau: fi, i-1 = (Pi – Pi-1)/Sxq Trong đó: fi, i-1: ma sát đơn vị Pi = i x E x A: Lực tại vị trí i Pi-1 = i-1 x E x A: lực tại vị trí i-1  Pi-1 = (Pi x i-1)/i Sxq =  x D x Li, i-1, với D là đường kính cọc Với: i, i-1: biến dạng tại vị trí i, i-1 E: mô đun đàn hồi của cọc Phân bố ứng suất ở đáy cọc được tính theo công thức: b = Pb/A Với Pb là lực tính được tại vị trí đầu đo đáy cọc, A là diện tích mũi cọc 1. Thiết bị đo co ngắn cọc 10 Một trong những thiết bị đo co ngắn thường dùng là thiết bị do hãng Geokon, USA sản xuất. Nguyên lý đo dựa trên biến dạng của các transducer được cố định hai đầu thay đổi theo điều kiện chiu lực kéo hay nén của cọc thí nghiệm. Thiết bị này được cố định bằng các neo gắn chặt vào phía trong ống sonic nhờ hệ thống khí.

Cáp tín hiệu và thanh dẫn kim loại từ các transducer được nối với nhau từ đáy cọc lên đỉnh cọc và được kết nối vào hộp đọc tự động lấy số liệu trong suốt quá trình thí nghiệm. Để chuyển tín hiệu số thu được sang biến dạng, công thức dưới đây được áp dụng: D = G (R1 - R0) Với: D là biến dạng tính toán. R1 là số đọc tại thời điểm thí nghiệm. R0 là số đọc ban đầu.

G là hệ số hiệu chỉnh, thường là millimeter hoặc inches trên số đọc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ