Tổng quan nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu cốt lõi của mọi chiến lược phát triển quốc gia, đóng vai trò thước đo căn bản phản ánh năng lực cạnh tranh và sự tiến bộ xã hội. Bước vào năm 2023, quy mô dân số Việt Nam chính thức vượt mốc 100,3 triệu người, trong đó dân số nam chiếm 49,9% và nữ chiếm 50,1%. Sau cú sốc đại dịch năm 2021 khiến tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn 2,58%, nền kinh tế đã phục hồi mạnh mẽ với mức tăng trưởng ấn tượng 8,12% vào năm 2022. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2023 đã điều chỉnh về mức 5,05%. Diễn biến này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bất ổn địa chính trị thế giới, xung đột Nga - Ukraine kéo dài, căng thẳng thương mại quốc tế và đà suy giảm tổng cầu toàn cầu.

So sánh lịch sử cho thấy, nếu như vào thời điểm bắt đầu Đổi mới năm 1986, quy mô GDP của Việt Nam đứng thứ ba trong khu vực ASEAN thì đến năm 2015 đã tụt xuống vị trí thứ sáu. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá toàn diện chu kỳ tăng trưởng, xác định rõ các động lực nội sinh nhằm thoát khỏi nguy cơ bẫy thu nhập trung bình.

Luận văn thạc sĩ kinh tế tập trung giải quyết vấn đề đánh giá biến động tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam, nhận diện sự dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế và diễn biến thị trường lao động trong giai đoạn 2011 - 2023. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng và dự báo kinh tế; phân tích thực trạng tăng trưởng GDP theo giá so sánh năm 2010; ứng dụng các mô hình chuỗi thời gian hiện đại để dự báo tốc độ tăng trưởng GDP đến năm 2030; đồng thời đề xuất hệ thống 14 giải pháp chính sách khả thi.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam với chuỗi dữ liệu thứ cấp kéo dài 13 năm (2011 - 2023) và dữ liệu theo quý từ quý 1 năm 2011 đến quý 2 năm 2024. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và các chỉ số định lượng giúp các nhà quản lý vĩ mô định hình lộ trình duy trì mức tăng trưởng GDP bình quân từ 6,5% đến 7,0%/năm, hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung phân tích của đề tài được xây dựng trên sự kế thừa các trường phái kinh tế học kinh điển và hiện đại. Điểm tựa trung tâm là Lý thuyết tăng trưởng Tân cổ điển của Robert Solow (1956) thông qua hàm sản xuất mở rộng Y = F(A, K, L). Mô hình chỉ ra rằng sản lượng kinh tế phụ thuộc vào tích lũy vốn (K), nguồn nhân lực (L) và tiến bộ kỹ thuật (A). Trong dài hạn, việc gia tăng vốn tư bản thuần túy sẽ gặp phải quy luật lợi tức biên giảm dần, do đó việc đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất các nhân tố tổng hợp đóng vai trò quyết định để duy trì tăng trưởng bền vững.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng mô hình Harrod - Domar của trường phái Keynes để xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa tỷ lệ tiết kiệm, quy mô đầu tư và hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR). Mô hình chứng minh tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR. Ngoài ra, lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Paul Romer cũng được tích hợp để giải thích tầm quan trọng của nguồn vốn tri thức, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng như vốn con người trong nền kinh tế tri thức.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: GDP thực tế được xác định theo giá so sánh năm gốc 2010 theo phương pháp chi tiêu GDP = C + I + G + (X - M) nhằm loại trừ trượt giá lạm phát; chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại hóa; và tăng trưởng xanh theo định hướng tại Quyết định số 1658/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài là dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy được trích xuất từ Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) và các báo cáo kinh tế - xã hội chính thức giai đoạn 2011 - 2023. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm toàn bộ chuỗi quan sát thường niên 13 năm cùng chuỗi dữ liệu theo quý gồm 54 quan sát liên tục từ quý 1 năm 2011 đến quý 2 năm 2024. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ chuỗi thời gian chính quy, đảm bảo tính liên tục, đồng nhất và chuẩn mực quốc tế theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA).

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh động thái và tốc độ tăng trưởng bình quân để đánh giá cấu trúc kinh tế. Đối với nhiệm vụ dự báo chuỗi thời gian, nghiên cứu ứng dụng phương pháp mô hình hóa Box - Jenkins (1970) với mô hình tự hồi quy tích hợp trung bình trượt (ARIMA) và mô hình mùa vụ SARIMA(5,0,0)(2,0,0)4.

Lý do lựa chọn mô hình Box - Jenkins bắt nguồn từ tính ưu việt vượt trội trong việc xử lý các chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô có xu hướng biến động phi dừng và tính quy luật mùa vụ theo quý. So với các mô hình học máy phức tạp đòi hỏi cỡ mẫu hàng vạn quan sát, ARIMA hoạt động đặc biệt hiệu quả trên các tập dữ liệu chuỗi thời gian trung bình. Quy trình thực hiện trải qua 4 bước nghiêm ngặt: kiểm định tính dừng thông qua kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey - Fuller (ADF); nhận dạng bậc mô hình qua biểu đồ hệ số tự tương quan (ACF) và tự tương quan riêng phần (PACF); ước lượng và chọn lọc mô hình tối ưu dựa trên tiêu chuẩn thông tin Bayes (BIC), chỉ số Akaike (AIC) và sai số bình phương trung bình (RMSE); sau đó tiến hành kiểm định phần dư nhiễu trắng trước khi xuất kết quả dự báo GDP đến quý 4 năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực nghiệm giai đoạn 2011 - 2023 làm nổi bật 4 phát hiện mang tính quy luật:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng GDP trải qua 4 giai đoạn rõ rệt: Giai đoạn tăng trưởng đều đặn 2011 - 2015 duy trì từ 5,50% đến 6,99%; giai đoạn bứt phá 2016 - 2018 đạt tốc độ cao từ 6,69% đến 7,46%; giai đoạn suy giảm 2019 - 2021 do căng thẳng thương mại quốc tế và đại dịch Covid-19 với mức đáy 2,58% năm 2021; và giai đoạn phục hồi ngoạn mục năm 2022 đạt đỉnh 8,12% trước khi điều chỉnh về mức 5,05% năm 2023.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế theo ngành chuyển dịch sâu sắc theo hướng công nghiệp hóa và dịch vụ hóa. Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm đều đặn từ 16,26% năm 2011 xuống 14,47% năm 2015, chạm mức 11,88% năm 2022 và đạt 11,96% năm 2023, tương đương mức giảm 4,3 điểm phần trăm. Ngược lại, khu vực dịch vụ khẳng định vị thế chủ lực khi tăng từ 38,91% năm 2011 lên 42,54% năm 2023 (tăng 3,63 điểm phần trăm). Khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì quy mô lớn, tăng từ 34,58% năm 2011 lên 37,12% năm 2023.

Thứ ba, sự dịch chuyển mạnh mẽ của cơ cấu lực lượng lao động xã hội. Lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ 24,67 triệu người (chiếm 48,0% tổng lao động) năm 2011 xuống còn 13,8 triệu người (chiếm 26,9%) năm 2023, giải phóng hơn 10,8 triệu lao động sang các khu vực có giá trị gia tăng cao hơn. Lao động ngành công nghiệp - xây dựng tăng thêm 5,69 triệu người, từ 11,51 triệu người (22,4%) lên 17,2 triệu người (33,53%). Khu vực dịch vụ thu hút thêm 5,09 triệu người, nâng tỷ trọng từ 29,6% lên 39,57% với 20,3 triệu lao động vào năm 2023.

Thứ tư, chất lượng lao động và áp lực việc làm bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Tính đến cuối năm 2023, cả nước vẫn còn khoảng 38 triệu lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2023 là 2,28%, trong đó khu vực thành thị ở mức 2,75% và nông thôn là 1,99%. Tỷ lệ thiếu việc làm cả nước đạt 2,01%, phản ánh tình trạng sử dụng lao động dưới tiềm năng vẫn còn phổ biến.

Thảo luận kết quả

Diễn biến tăng trưởng phản ánh nền kinh tế Việt Nam có độ mở thương mại rất cao, dẫn tới tính nhạy cảm lớn trước các cú sốc bên ngoài. Dù tốc độ tăng trưởng năm 2022 đạt 8,12% rất ấn tượng nhờ việc khôi phục sản xuất sau giãn cách, nhưng mức giảm xuống 5,05% năm 2023 cho thấy rủi ro suy giảm đơn hàng xuất khẩu toàn cầu và áp lực lạm phát chi phí đẩy.

Sự phân hóa thu nhập giữa các ngành kinh tế ngày càng rõ nét. Năm 2023, thu nhập bình quân của lao động ngành khai khoáng đạt 10,3 triệu đồng/tháng (tăng 11,2% so với năm trước), ngành vận tải kho bãi đạt 9,8 triệu đồng/tháng (tăng 8,3%), ngành bán buôn bán lẻ đạt 8,3 triệu đồng/tháng (tăng 7,8%), dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 6,8 triệu đồng/tháng (tăng 8,6%), trong khi lao động nông nghiệp chỉ đạt 4,1 triệu đồng/tháng. Khoảng cách thu nhập này lý giải làn sóng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị và sang các khu công nghiệp.

Về mặt học thuật, kết quả phân tích chuỗi thời gian của đề tài bằng mô hình SARIMA(5,0,0)(2,0,0)4 và ARIMA(0,1,0) hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu kinh tế lượng gần đây tại Ai Cập, Indonesia và Philippines. Điều này khẳng định chuỗi số liệu GDP quý của các nền kinh tế đang phát triển luôn mang tính tự tương quan cao và chịu tác động chu kỳ mùa vụ rất mạnh, đặc biệt là sự tăng tốc giải ngân và tiêu dùng vào quý 4 hàng năm.

Để trực quan hóa các phát hiện này trong các báo cáo chuyên sâu, dữ liệu tăng trưởng kinh tế và cơ cấu lao động có thể được thể hiện thông qua biểu đồ kết hợp đường và cột (combo chart) phản ánh quy mô GDP cùng đường tốc độ tăng trưởng qua 54 quý; đi kèm biểu đồ diện tích chồng (stacked area chart) minh họa xu hướng thu hẹp của khu vực nông nghiệp và sự mở rộng của khu vực công nghiệp - dịch vụ; cùng bảng ma trận đối chiếu sai số RMSE, chỉ số AIC và BIC nhằm kiểm chứng độ tin cậy của các mô hình dự báo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư công. Chính phủ cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm tối thiểu 20% chi phí tuân thủ quy định kinh doanh trước năm 2026. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đạt tỷ lệ trên 95% kế hoạch hàng năm, tập trung vào các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia và logistics liên vùng. Mục tiêu cụ thể là hạ hệ số ICOR của nền kinh tế từ mức trên 6,0 hiện nay xuống dưới 5,5 vào năm 2030, tối ưu hóa hiệu quả đồng vốn đầu tư xã hội.

Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp cùng các bộ, ngành ban hành cơ chế ưu đãi thuế nhằm khuyến khích doanh nghiệp thành lập quỹ R&D, phấn đấu nâng tổng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển toàn xã hội đạt từ 1,5% đến 2,0% GDP trong giai đoạn 2025 - 2030. Đẩy nhanh phát triển kinh tế số, hướng tới đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2030 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trình đào tạo nghề quy mô lớn nhằm giải quyết dứt điểm điểm nghẽn 38 triệu lao động chưa qua đào tạo. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ lên 35% - 40% vào năm 2028 và đạt trên 45% vào năm 2030, đặc biệt chú trọng các ngành bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa.

Thứ tư, thúc đẩy tăng trưởng xanh và tận dụng các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Bộ Công Thương và chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg. Hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất xanh, giảm cường độ phát thải carbon để tận dụng tối đa ưu đãi thuế quan từ CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP, duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bền vững đạt từ 7% đến 9%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, chuyên viên phân tích vĩ mô tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, Ngân hàng Nhà nước và Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố. Đề tài cung cấp cơ sở định lượng vững chắc và các kịch bản dự báo tăng trưởng GDP đến năm 2030, phục vụ đắc lực cho công tác xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và Chiến lược 10 năm.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong nước và các tập đoàn đa quốc gia đang tìm kiếm cơ hội giải ngân vốn FDI hoặc FPI tại Việt Nam. Bức tranh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và dữ liệu chi tiết về chi phí, thu nhập lao động theo ngành giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trung và dài hạn, định vị phân khúc thị trường và dự báo biến động tổng cầu.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Kinh tế lượng. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng phương pháp Box - Jenkins và mô hình SARIMA mùa vụ trên dữ liệu thống kê chuỗi thời gian chính thức tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại và công ty quản lý quỹ đầu tư. Các ước tính định lượng về chu kỳ vĩ mô, tình hình thất nghiệp và biến động các thành phần tổng cầu giúp các định chế tài chính nâng cao chất lượng mô hình quản trị rủi ro tín dụng và xây dựng danh mục phân bổ tài sản hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2023 đã biến động ra sao? Nền kinh tế ghi nhận sự mở rộng ổn định từ 5,50% đến 6,99% trong giai đoạn 2011 - 2015, sau đó tăng tốc đạt 6,69% đến 7,46% trong giai đoạn 2016 - 2018. Mặc dù suy giảm xuống 2,58% vào năm 2021 do đại dịch Covid-19, kinh tế Việt Nam đã phục hồi ngoạn mục đạt 8,12% năm 2022 trước khi điều chỉnh về mức 5,05% vào năm 2023.

Cơ cấu các ngành kinh tế của Việt Nam có sự chuyển dịch như thế nào? Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng cường khu vực dịch vụ. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm mạnh từ 16,26% năm 2011 xuống 11,96% năm 2023. Trong khi đó, khu vực dịch vụ mở rộng từ 38,91% lên 42,54%, khu vực công nghiệp và xây dựng duy trì mức đóng góp cao đạt 37,12% vào năm 2023.

Thị trường lao động Việt Nam hiện nay đang đối mặt với những trở ngại lớn nào? Trở ngại lớn nhất là chất lượng nguồn nhân lực khi cả nước vẫn còn khoảng 38 triệu lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật vào cuối năm 2023. Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi là 2,28% và tỷ lệ thiếu việc làm là 2,01%, cùng với sự chênh lệch lớn về thu nhập khi ngành nông nghiệp chỉ đạt bình quân 4,1 triệu đồng/tháng.

Tại sao mô hình ARIMA và SARIMA lại phù hợp để dự báo GDP của Việt Nam? Phương pháp Box - Jenkins thông qua mô hình SARIMA(5,0,0)(2,0,0)4 có khả năng xử lý tốt chuỗi thời gian không dừng bằng phương pháp lấy sai phân và nắm bắt quy luật biến động mùa vụ theo quý. Mô hình dựa trên 54 quan sát thực tế (2011 - 2024), đạt các tiêu chuẩn kiểm định AIC, BIC và RMSE tối ưu hơn so với các phương pháp san mũ thông thường.

Chiến lược tăng trưởng xanh đóng vai trò gì đối với tăng trưởng GDP đến năm 2030? Theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg, tăng trưởng xanh giúp Việt Nam tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, giảm cường độ phát thải khí nhà kính và đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu khắt khe của CPTPP, EVFTA. Đây là nền tảng cốt lõi giúp nền kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và duy trì mức tăng trưởng bền vững khoảng 6,5% - 7,0%/năm.

Kết luận

  • Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2023 thể hiện khả năng phục hồi mạnh mẽ trước các biến động quốc tế, đạt đỉnh cao 8,12% vào năm 2022 và ổn định ở mức 5,05% vào năm 2023.
  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng hiện đại hóa với tỷ trọng ngành dịch vụ vươn lên chiếm 42,54% và công nghiệp - xây dựng chiếm 37,12%, trong khi nông nghiệp thu hẹp còn 11,96%.
  • Thị trường lao động ghi nhận sự chuyển dịch tích cực của hơn 10,8 triệu người ra khỏi khu vực nông nghiệp, tuy nhiên điểm nghẽn 38 triệu lao động chưa qua đào tạo đòi hỏi các chính sách nâng cao kỹ năng cấp bách.
  • Việc áp dụng mô hình Box - Jenkins chuỗi thời gian SARIMA cung cấp công cụ định lượng tin cậy dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế đến năm 2030.
  • Hệ thống 14 giải pháp chính sách bao quát từ cải cách thể chế, nâng cấp công nghệ, hoàn thiện hạ tầng đến phát triển kinh tế xanh tạo động lực toàn diện cho sự bứt phá vĩ mô.

Về lộ trình thực hiện, giai đoạn 2024 - 2026 cần tập trung tháo gỡ thể chế đầu tư và chuẩn hóa lực lượng lao động; giai đoạn 2027 - 2030 đẩy mạnh chuyển đổi số và tận dụng các hiệp định thương mại để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 6,5% đến 7,0%/năm. Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác sâu bộ dữ liệu và các khuyến nghị trong luận văn để xây dựng kịch bản thích ứng và phát triển tối ưu.