ĐẶT VẤN ĐỀ Phát triển Y học cổ truyền (YHCT) là 1 chiến lược của Nhà nước nói chung của Bộ y tế nói riêng trong công tác tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Chính phủ nước ta đã ban hành quyết định số 1893/QĐ- TTg ngày 25/12/2019 về việc “Ban hành chương trình phát triển Y dược cổ truyền, kết hợp Y dược cổ truyền với Y học hiện đại đến năm 2030” với những quan điểm và mục tiêu chỉ đạo cụ thể trong công tác phát triển Y học cổ truyền đối với các tuyến y tế. Bệnh viện y học cổ truyền Trung ương là đơn vị đầu ngành của cả nước về Y học cổ truyền, là tuyến cao nhất khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và cũng là đơn vị tuyến đầu có công tác bào chế bào chế thuốc cổ truyền quy mô lớn nhất cả nước. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế với định hướng phát triển công tác bào chế, hiện đại hóa y học cổ truyền, bệnh viện đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu bào chế đến nay đã có nhiều sản phẩm được sử dụng số lượng khá lớn trong điều trị nội trú.
Các thuốc đã được hiện đại hóa, đa dạng về dạng bào chế như cao nước, cốm, chè, hoàn… giúp bênh nhân dễ sử dụng và bảo quản. Tuy nhiên, thực trạng bào chế thuốc thành phẩm cổ truyền tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương còn chưa được nghiên cứu. Chính vì vậy, câu hỏi đặt ra là thực trạng hoạt động bào chế thuốc thành phẩm của Bệnh viện hiện nay ra sao? Nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị có đáp ứng đủ cho công tác bào chế không? Còn điều gì bất cập, tồn tại cần phải khắc phục để nâng cao hơn nữa chất lượng thuốc thành phẩm cổ truyền cho bệnh nhân điều trị tại bệnh viện. Nhằm trả lời câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Phân tích thực trạng bào chế thuốc thành phẩm cổ truyền tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương năm 2021” với 2 mục tiêu: 1 1.
Phân tích thực trạng nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị) bào chế thuốc thành phẩm cổ truyền tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương năm 2021. Phân tích kết quả của hoạt động bào chế thuốc thành phẩm cổ truyền tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương năm 2021. Vài nét về thuốc cổ truyền. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Theo thông tư số 30/2017/TT – BYT “Hướng dẫn phương pháp chế biến các vị thuốc cổ truyền” và thông tư số 32/2020/TT – BYT “Quy định tiêu chuẩn chế biến, bào chế thuốc cổ truyền trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền” có một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu: Thuốc cổ truyền (bao gồm cả vị thuốc cổ truyền) là thuốc có thành phần dược liệu được chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc theo kinh nghiệm dân gian thành chế phẩm có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại [10].
Dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc [10]. Vị thuốc cổ truyền là dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền dùng để sản xuất thuốc cổ truyền hoặc dùng để phòng bệnh, chữa bệnh [10]. Thuốc thành phẩm cổ truyền là dạng thuốc cổ truyền đã qua các công đoạn sản xuất, kể cả đóng gói và dán nhãn theo phương pháp truyền thống hoặc hiện đại thuộc một trong các dạng bào chế: viên, nước, chè, bột, cao và các dạng khác [2]. Bào chế thuốc cổ truyền là quá trình phối hợp hoặc biến đổi dược liệu, vị thuốc cổ truyền thành thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống và dạng bào chế hiện đại [4].
Dạng bào chế truyền thống là thành phẩm dưới dạng cao, hoàn cứng, hoàn mềm, bột thuốc, trà thuốc, rượu thuốc, cồn thuốc [4]. Dạng bào chế hiện đại là thành phẩm dưới dạng viên nén, bột hòa tan, cốm hòa tan, hoàn nhỏ giọt, siro, viên nang cứng, viên nang mềm, thuốc phun mù và các dạng khác ngoài các dạng bào chế kể trên [4]. Như vậy, trong nghiên cứu này, khái niệm thuốc cổ truyền bao gồm vị thuốc cổ truyền và thuốc thành phẩm cổ truyền. Sản phẩm của hoạt động bào chế thuốc cổ truyền có dạng bào chế truyền thống và dạng bào chế hiện đại.
Nguồn gốc của vị thuốc cổ truyền có thuốc Bắc và thuốc Nam. Vai trò của thuốc cổ truyền Tổ chức Y tế thế giới khẳng định “Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao khai thác rộng hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị của nó và làm hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn và rẻ hơn để sử dụng nhiều hơn". Theo Tổ chức Y tế Thế giới, 80% dân số ở các nước đang phát triển sử dụng y học cổ truyền hoặc thuốc từ thảo dược để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Doanh thu hàng năm thuốc từ dược liệu trên toàn thế giới đạt 80 tỷ đô la Mỹ.
Nhu cầu về dược liệu, các sản phẩm từ dược liệu có xu hướng ngày càng tăng. Trong vài thập niên gần đây, nhiều nước đã và đang đẩy mạnh việc nghiên cứu, sản xuất các chế phẩm có nguồn gốc từ dược liệu để hỗ trợ, phòng ngừa và điều trị bệnh [8]. Hiện nay, hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCT đang dần được mở rộng, có 63 bệnh viện YHCT công lập, trong đó có 02 bệnh viện tuyến trung ương, 03 bệnh viện của Bộ, Ngành và 58 bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố; các khoa, tổ YHCT trong các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa chiếm 92,7%, các trạm y tế có tổ chức khám chữa bệnh bằng YHCT đạt 84,8%; các cơ sở đào tạo y, dược cổ truyền ngày càng phát triển. Ngoài ra, hệ thống khám chữa bệnh tư nhân về YHCT cũng ngày càng mở rộng….
4 Công tác xã hội hóa về YHCT cũng được đẩy mạnh góp phần tích cực thực hiện chiến lược chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân mặt khác góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và cải thiện môi trường. Tổ chức kế thừa và phát triển được nhiều bài thuốc hay, cây thuốc quý của các lương y trên mọi miền đất nước. Hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, uy tín của các phương pháp chữa bệnh của YHCT Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện tại, Việt Nam có quan hệ hợp tác về YDHCT với hơn 40 nước.
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rất coi trọng việc phát triển nền YHCT và chủ trương kế thừa, phát triển mạnh mẽ YHCT, kết hợp chặt chẽ YHCT với YHHĐ. Chủ trương này đã được cụ thể hóa bằng các Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định, Thông tư của Ban Bí thư TW Đảng, của Thủ tướng Chính phủ, của liên Bộ, ngành và của Bộ Y tế…qua từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển chung của xã hội, của ngành y tế nói chung và lĩnh vực YHCT nói riêng [9]. Tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Trung ương, đơn vị đầu ngành về y học cổ truyền, lượng bào chế và sử dụng vị thuốc hàng năm đạt trên 70 tấn, lượng thuốc thành phẩm cổ truyền hàng năm bào chế từ 300.000 sản phẩm phục vụ nhu cầu điều trị tại Bệnh viện với giá trị gấp 7-8 lần giá trị thuốc tân dược. Điều đó cho thấy vai trò của thuốc cổ truyền ngày càng lớn trong công tác phòng, chữa bệnh.
Hiểu rõ tầm quan trọng của YHCT, chính phủ đã quyết định số 1893/QĐ- TTg nêu rõ chương trình và kế hoạch: Phát triển toàn diện y dược cổ truyền: - Đến năm 2030: 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có bệnh viện đa khoa y dược cổ truyền hoặc bệnh viện đa khoa y dược cổ truyền 5 - Phục hồi chức năng tuyến tỉnh; 95% bệnh viện đa khoa, viện có giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa có Khoa y, dược cổ truyền; 100% trạm y tế xã, phường, thị trấn và tương đương có triển khai hoạt động tư vấn sử dụng y dược cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe hoặc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh y dược cổ truyền. - Tăng tỉ lệ khám bệnh, chữa bệnh y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại ở tất cả các tuyến; đến năm 2025: tuyến trung ương đạt 15%; tuyến tỉnh đạt 20%; tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 30%; đến năm 2030: tuyến trung ương đạt 20%; tuyến tỉnh đạt 25%; tuyến huyện đạt 30% và tuyến xã đạt 40%. - Tăng tỉ lệ chi trả thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ quỹ bảo hiểm y tế trong tổng số chi phí cho thuốc: đến năm 2025 tối thiểu là 20% và đến năm 2030 là 30%; trong đó chi phí sử dụng dược liệu sẵn có tại địa phương trong chữa bệnh tối thiểu là 5% trong tổng số chi phí thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền. - Tăng số lượng đề tài nghiên cứu khoa học về y dược cổ truyền được ứng dụng trong thực tiễn; chú trọng nghiên cứu chứng minh khoa học tác dụng chữa bệnh của y dược cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh y dược cổ truyền có giá trị.
- Tăng tỉ lệ dược liệu nuôi trồng trong nước, khuyến khích dược liệu nuôi trồng đạt thực hành tốt nuôi trồng, thu hái dược liệu theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (GACP - WHO); giảm dần tỉ lệ nhập khẩu dược liệu, thuốc cổ truyền. - Phát triển y dược cổ truyền khối tư nhân, tăng cường vai trò của các hội, hiệp hội nghề nghiệp trong lĩnh vực y dược cổ truyền. 6 Kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại: Đến năm 2030: 15% Bệnh viện Đa khoa y dược cổ truyền, Bệnh viện Đa khoa y dược cổ truyền - Phục hồi chức năng được đầu tư trang thiết bị bào chế, sản xuất các dạng bào chế hiện đại thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, sản xuất tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung ứng trên địa bàn tỉnh được quỹ bảo hiểm y tế chi trả; 100% bác sĩ y học cổ truyền được đào tạo liên tục, đào tạo chuyên sâu sau đại học các chuyên khoa về y học hiện đại; xây dựng, chuẩn hóa tài liệu đào tạo, tài liệu chuyên môn về kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại dùng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; tăng tỉ lệ khám bệnh, chữa bệnh, số lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có lồng ghép giữa y dược cổ truyền với y dược hiện đại.