CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ TIÊU THỤ THỦY SẢN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIÊU THỤ THỦY SẢN NÓI CHUNG VÀ TÔM NÓI RIÊNG 1. Khái niệm về tiêu thụ thủy sản Tiêu thụ là tất cả các hoạt động liên quan điến sự lưu chuyển của hàng hóa và dịch vụ từ người cung cấp đến tay người tiêu dùng cuối cùng để thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng thông qua trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường [6]. Thực chất của tiêu thụ sản phẩm là quá trình người sản xuất sử dụng các trung gian hoặc trực tiếp giao quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng cuối cùng, đồng thời tạo doanh thu thông qua việc thu tiền hoặc nhận quyền thu hàng hóa, dịch vụ đã bán.
Tiêu thụ sản phẩm thủy sản được thể hiện trên kênh lưu thông qua nhiều cấp và nhiều khâu khác nhau. Tùy theo trình độ phát triển của mỗi nền sản xuất, lưu thông hàng hóa và tính chất của từng loại sản phẩm mà kênh tiêu thụ có thể ngắn hoặc dài, trực tiếp hay gián tiếp. Nghĩa là sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng có thể trực tiếp thông qua khâu trung gian hoặc gián tiếp phải qua nhiều khâu trung gian. Sản phẩm thủy sản trực tiếp tới tay người tiêu dùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay các ngư trại nuôi trồng thủy sản, hoặc có thể ở các làng cá trên bờ biển, hoặc có thể bán lẻ ở các chợ nông thôn và thành phố.
Sản phẩm thủy sản lưu thông tới tay người tiêu dùng có thể trải qua nhiều khâu trung gian như: thương mại thu gom sản phẩm, chế biến, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng … 1. Đặc điểm trong sản xuất và kinh doanh thủy sản nói chung Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, nên sản xuất kinh doanh thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất kinh doanh nông nghiệp nói chung. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên biểu hiện của những đặc điểm chung trong ngành thủy sản lại có những nét riêng. 4 Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước Các loài động thực vật sống trong môi trường nước mặt là đối tượng sản xuất của ngành thủy sản.
Môi trường nước mặt cho sản xuất thủy sản gồm có biển và các mặt nước trong nội địa. Những sinh vật sống trong môi trường nước, với đặc tính là đối tượng lao động của ngành thủy sản nên có một số đặc điểm đáng lưu ý sau: - Về trử lượng khó xác định một cách chính xác trử lượng thủy sản có trong một ao hồ hay ngư trường. Đặc biệt ở các vùng mặt nước rộng lớn, các sinh vật có thể di chuyển tự do trong ngư trường hoặc di chuyền từ vùng này đến vùng khác không phụ thuộc vào ranh giới hành chính. Hướng di chuyển của các luồng tôm cá chịu tác động của nhiều yếu tố như thời tiết khí hậu, dòng chảy và đặc biệt là nguồn thức ăn tự nhiên.
- Các loài sinh vật trong nước sinh trưởng và phát triển chịu sự tác động của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình, thủy văn. Trong nuôi trồng thủy sản, cần tạo những điều kiện thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển cao của các loài thủy sản như: tạo dòng chảy bằng máy bơm, tạo ôxi bằng quạt sục nước. - Các sản phẩm thủy sản đánh bắt đều rất dễ ươn thối, hư hỏng vì chúng đều là những sản phẩm sinh vật đã bị tách ra khỏi môi trường sống. Để tránh tổn thất trong sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm đòi hỏi sự liên kết chặt chẻ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm, từ khai thác đến đầu tư tái tạo nguồn lợi, đầu tư cơ sở hạ tầng dịch vụ một cách đồng bộ.
- Cần có những nghiên cứu cơ bản để nắm vững qui luật sinh trưởng và phát triển của từng giống, loài thủy sản như qui luật sinh sản, sinh trưởng, di cư, qui luật cạnh tranh quân đoàn, các tập tính ăn hay tự vệ. Trên cơ sở đó triển khai thực hiện các biện pháp nuôi trồng, khai thác phù hợp với yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, bảo đảm phát triển bền vững của ngành [16]. Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Các loại mặt nước bao gồm: sông, hồ, ao, mặt nước ruộng, cửa sông, biển. gọi chung là thủy vực được sử dụng vào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.
Tương tự như ruộng đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, thủy vực là tư liệu sản xuất đặc 5 biệt, chủ yếu không thể thay thế của ngành thủy sản. Không có thủy vực sẽ không có sản xuất thủy sản. Do vậy, để sử dụng có hiệu quả và bảo vệ thủy vực trong ngành thủy sản cần chú ý những vấn đề sau: - Thực hiện qui hoạch các loại hình thủy vực và xác định hướng sử dụng thủy vực cho ngành thủy sản. Trong qui hoạch cần chú ý những thủy vực có mục đích sử dụng chính vào nuôi trồng thủy sản cần kết hợp các hướng kinh doanh khác, còn những thủy vực được qui hoạch sử dụng cho mục đích phát triển giao thông, thủy điện.
là chính thì cần kết hợp hợp lý với việc phát triển thủy sản để nâng cao hiệu quả sử dụng thủy vực. - Chú trọng việc bảo vệ môi trường nước, kể cả nước biển. Thực hiện những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn mọi nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước. Mặt khác, phải thường xuyên cải tạo thủy vực, tăng nguồn dinh dưỡng cho các thủy sinh vật nhằm nâng cao năng suất sinh học của thủy vực.
- Sử dụng thủy vực một cách tiết kiệm, đặc biệt cần hạn chế chuyển đổi mục đích sử dụng thủy vực là các ao, hồ. sang đất sử dụng cơ bản hay mục đích khác [16]. Ngành thủy sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao Cơ cấu sản xuất ngành thủy sản (hay còn gọi là cơ cấu ngành) là tập hợp các bộ phận những hoạt động sản xuất thủy sản tương tự nhau và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận đó hợp thành hệ thống sản xuất kinh doanh thủy sản. Cơ cấu ngành thủy sản được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, hình thành nên hai bộ phận sản xuất chủ yếu là nuôi trồng thủy sản và công nghiệp thủy sản với những chức năng khác nhau: - Nuôi trồng thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất nông nghiệp, thường được gọi là ngành nuôi trồng thủy sản, có chức năng duy trì, bổ sung tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản để cung cấp sản phẩm trực tiếp cho tiêu dùng, xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và các ngành khác.
- Công nghiệp thủy sản: bộ phận sản xuất có tính chất công nghiệp bao gồm khai thác và chế biến thủy sản. Những hoạt động này có nhiệm vụ khai thác nguồn 6 lợi thủy sản và chế biến chúng thành các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và xuất khẩu. - Ngoài ra, để phục vụ sản xuất kinh doanh còn có các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ khác như: đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, sản xuất nước đá, sản xuất bao bì, ngư cụ… Tất cả các hoạt động sản xuất phụ trợ và phục vụ nói trên cùng với nuôi trồng và công nghiệp thủy sản có mối quan hệ chặt chẻ với nhau tạo thành cơ cấu ngành thủy sản. Cơ cấu ngành thủy sản Việt Nam có thể được minh họa đơn giản như sau [16].
Ngành công nghiệp thủy sản Ngành nuôi trồng Các ngành phụ trợ và thủy sản Ngành khai thác Ngành chế biến phục vụ - Nuôi thủy sản - Khai thác các sản - Chế biến - Đóng sửa tàu thuyền nước ngọt phẩm nuôi trồng đông lạnh - Sản xuất sửa chữa ngư cụ - Chế biến - Dịch vụ vận chuyển - Nuôi trồng nước lợ đồ hộp - Dịch vụ cảng, kho lạnh - Chế biến - Sản xuất nước đá - Nuôi trồng hải sản - Đánh bắt hải sản hàng khô - Sản xuất bao bì - Chế biến - Sản xuất thức ăn cho nuôi nước mắm trồng Sản xuất kinh doanh thủy sản đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, độ rủi ro cao Hầu hết các hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy sản đều đòi hỏi đầu tư ban đầu tương đối lớn. Trong hoạt động nuôi trồng, nếu không kể những hoạt động nuôi cá trong ao hồ có sẵn, nuôi cá ruộng, nuôi lồng ở sông suối thì hầu hết các hoạt động đầu tư nuôi thủy sản đều cần vốn lớn như: đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng, đầu tư cải tạo đầm nuôi thủy sản ở ven biển, cửa sông … Trong hoạt động đánh bắt, nhất là đánh bắt xa bờ đòi hỏi vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền lên tới hàng tỷ đồng. Nhu cầu đầu tư vốn ban đầu tương đối lớn cho phát triển của các hoạt động kinh tế như trên là vượt quá khả năng tự tích lũy và đầu tư của từng chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản, đặc biệt là khả năng của các 7 hộ. Do vậy, để phát triển thủy sản, nhà nước phải xây dựng và thực hiện chính sách cho vay vốn theo các chương trình phát triển riêng của ngành này như: Cho vay trong chương trình khai thác xa bờ, tín dụng đầu tư xây dựng các cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá theo qui hoạch… Sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nhất là điều kiện thủy văn, bão, lũ.
Đối với những nước như nước ta có bờ biển dài, diễn biến bão lũ phức tạp, nhiều trận bão lũ lớn đã gây thiệt hại nặng cho nghề nuôi trồng thủy sản của cả một vùng hay một địa phương. Trong nhiều trường hợp, thiên tai có thể gây thiệt hại cả đến tính mạng của ngư dân, nhất là ngư dân làm nghề đánh bắt ngoài khơi. Để hạn chế tối đa những hậu quả có thể gây ra do thiên tai và khắc phục hậu quả thiên tai nhằm nhanh chóng phục hồi sản xuất, cần chú ý những vấn đề chủ yếu sau: - Cần đầu tư các phương tiện thực hiện dự báo khí tượng thủy văn phát hiện và cảnh báo sớm các thiên tai như bão biến, lũ lụt … cho ngư dân.