chương 1 Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam không những có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là một khu vực có ví trí địa lý rất quan trọng cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Vì vậy việc phân tích tình hình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của vùng trong giai đoạn vừa qua là hết sức cần thiết, kết quả ước lượng mức độ tác động của các yếu tố đến tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan tâm hàng đầu của tác giả, nhằm cung cấp cho người đọc một số thông tin cần thiết nhất. 4 CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN Cơ SỎ LÝ THUYÉT VÀ CÁC NGHIÊN cứu TRƯỚC Chương 2 sẽ trình bày tóm tắt các khải niệm, và nêu tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến tăng trưởng và phát triển kỉnh tế quốc gia nói chung và địa phương nói riêng.1 Tăng trưởng kình tế * Các khái niệm - Theo Kuznets (1968), tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững về sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi công nhân. - Theo Robert Paul Thomas, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng nhanh hom dân số.
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng phần trăm hàng năm của GDP thực tế hay GDP thực tế trên đầu người trong dài hạn (David Begg, 1991). - Theo Phan Thúc Huân (2007), tăng trưởng kinh tể là sự tăng thêm hay là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Tăng trưởng kinh tế là tỉ lệ tăng sản lượng thực tế, là kết quả của các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của một nền kinh tế tạo ra. Sự tăng trưởng kinh tế được so sánh với các năm gốc kế tiếp nhau được gọi là tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng sự tăng lên của các chỉ tiêu GNI, NNP, GDP, NDI hoặc sự tăng lên theo đầu người của các chỉ tiêu này, và đây chính là thể hiện sự tăng trưởng mức sống của một quốc gia. Cũng theo tác giả này thì sự tăng trưởng có ý nghĩa hẹp hom phát triển, nó chỉ dừng lại ở mức độ sự gia tăng về mặt số lượng của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. - Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường sản lượng được sản xuất ra bỡi các yếu tố sản xuất nằm trong nền kinh tế quốc nội, bất kể ai là chủ sở hữu các yếu tố đó (David Begg, 1991). 5 - Tổng sản phẩm trong nước là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ảnh tình hình hoạt động của nền kinh tế.
GDP được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ. cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). GDP có thể tính bằng: Tổng các giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế; Tổng các khoản chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng; Hoặc bằng thu nhập gộp của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động cho quá trình sản xuất, nếu tính theo giá thị trường, GDP cũng bao gồm thuế gián thu (Nguyễn Trọng Hoài, 2007). - Hàng hóa và dịch vụ cuối cùng là những loại hàng hóa và dịch vụ mà bản thân nó không được dùng để sản xuất ra hàng hóa khác mà chỉ dùng để bán cho người tiêu dùng cuối cùng mà thôi (Nguyễn Thái Thảo Vy, 2011).
* Đo lường tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Trọng Hoài, 2007) Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh tế. GDP có thể tính theo giá năm hiện hành hoặc giá cố định (giá của năm gốc). Neu tính theo giá hiện hành, chúng ta sẽ được GDP danh nghĩa và nếu tính theo giá cố định, chúng ta sẽ được GDP thực, GDP có thể xác định theo 3 phương pháp : - Phương pháp sản xuất GDP = £ VA = X (AVA+IVA+SVA); với AVA, IVA, SVA lần lượt là giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Giá trị gia tăng là lượng gia tăng trong giá trị của hàng hóa, do kết quả của quá trình sản xuất.
Giá trị gia tăng được tính bằng cách lấy giá trị sản lượng của hãng trừ đi chi phí cho hàng hóa đầu vào đã được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó. - Phương pháp chi tiêu GDP = c + I + G + NX; trong đó c là chi mua hàng hóa tiêu dùng (lâu bền và không lâu bền) và dịch vụ của khu vực hộ gia đình (không bao gồm xây dựng nhà mới); I là đầu tư gộp bao gồm đầu tư tài sản cố định (mua máy móc thiết bị, xây dựng nhà ở) và đầu tư vào tài sản lưu động (hàng tồn kho); G là chi mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ; NX là giá trị hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác trừ đi giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài. 6 - Phương pháp thu nhập GDP = w + i + r + n +Te +De; trong đó w là tiền lương và các khoản tiền thưởng người lao động nhận được; i là thu nhập của người cho vay; r là thu nhập của chủ.đất, chủ nhà (kể cả tiền quy đổi mà người có nhà trả cho chính họ) và chủ các tài sản cho thuê khác; n là thu nhập của chủ sở hữu doanh nghiệp; Te là thuế thu nhập và De là khấu hao. Tuy nhiên dù tính theo phương pháp nào đi nữa thì nhược điểm của GDP là không phản ánh đầy đủ và chính xác các hoạt động sản xuất do một số sản phẩm không qua mua bán trên thị trường dịch vụ, các hoạt động không khai báo, hoạt động kinh tế ngầm, hoạt động mua bán nhỏ, và chất lượng hàng hóa không được phản ánh đầy đủ trong GDP.
Ngoài ra do giá cả sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau nên việc so sánh GDP giữa các quốc gia có nhược điểm. * Tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế là thước đo để các quốc gia đánh giá kết quả hoạt động sau mỗi thời kỳ nhất định, trong trường hợp này người ta thường tính tốc độ tăng trưởng của GNP hay GDP thực để tránh sự biến động của giá cả theo công thức: Vx [ Xnăm(t) ■Xnăm(t-l) ] / Xnăm(t) Trong đó : V là tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X, và X có thể là GDP thực, GNP thực, hoặc GDP thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người.2 Phát triển kinh tế * Phát triển kinh tế bao hàm nhiều ý nghĩa rộng hơn. Phát triển kinh tế là một quá trình tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định, nó bao hàm về sự tăng trưởng kinh tế tức là tăng về quy mô sản lượng, sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và sự tiến bộ về xã hội. * Phát triển bền vững là sự phát triển thõa mãn nhu cầu trong hiện tại mà không xâm phạm đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai (WCED, 1987).
Theo Munansighe (1992) triển khai định nghĩa phát triển bền vững trên bằng cách xây dựng mối liên hệ giũa 03 yếu tổ kinh tế, xã hội và môi trường .3 Các yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Đối với các nước đang phát triển để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế cần có hàng loạt các yếu tố tổng hợp. Song các yếu tố cơ bản nhất cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế vẫn là vốn đầu tư, tài nguyên và môi trường, lao động và khoa học kỹ thuật công nghệ (Phan Phúc Huân, 2007).4 Vốn đầu tư (K) Vốn đầu tư là toàn bộ những chỉ tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định, vốn đầu tư thường được thực hiện qua các dự án đầu tư và một số chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yểu bổ sung tài sản cố định và tài sản lưu động. Có nhiều cách phân loại vốn đầu tư, phân theo cấp quản lý, phân theo khoản mục đầu tư, phân theo nguồn vốn, phân theo ngành kinh tế (Niên giám thống kê TP.1 Vốn đầu tư trong nước (Phan Thúc Huân, 2007) Nguồn vốn đầu tư trong nước từ tiết kiệm của chính phủ và tiết kiệm của khu vực ngoài quốc doanh - khu vực tư nhân. * Tiết kiệm của chính phủ gồm tiết kiệm của ngân sách và tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước : Sep — Sns + Sdn * Tiết kiệm của khu vực ngoài quốc doanh gồm tiết kiệm của cá nhân, các hộ gia đình và tiết kiệm của các doanh nghiệp tư nhân.2 Vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài đưa đến các nước đang phát triển bằng hai hình thức.
Đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. * Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước đầu tư, nhà đầu tư nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp (IMF, 1997, trích bỡi Nguyễn Hồng Chung, 2012). 8 * vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. vốn đàu tư trực tiếp nước ngoài là vốn để thực hiện dự án, bao gồm vốn pháp định và vốn vay (Niên giám thống kê TP.
* Vốn dầu tư gián tiếp là những khoản đầu tư thực hiện thông qua các hoạt động cho vay và viện trợ - Nguồn vốn có thể là của chính phủ các nước, có thể là của các tổ chức quốc tế (Phan Thúc Huân, 2007). Theo cách chia trên đây, cơ cấu vốn đầu tư bao gồm vốn trong nước (vốn các doanh nghiệp Nhà nước và vốn doanh nghiệp ngoài Nhà nước), vốn nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp) ngoài ra còn có nguồn vốn khác chiếm ti lệ khá nhỏ.