Chương 1 này, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu về tác động của RRTD, RRTK đến sự ổn định của các NHTMCP Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế đang trong quá trình phục hồi và phát triển trở lại sau khi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 (đặc biệt là các NHTM). Đồng thời, tác giả trình bày sơ lược về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tương nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Bên cạnh đó, cấu trúc của luận văn cũng được trình bày để giúp định hình cho việc nghiên cứu và trình bày kết quả một cách có tổ chức. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Tổng quan về rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại ❖ Tín dụng ngân hàng thương mại Luật Các TCTD Việt Nam năm 2010 nhận định: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính thực hiện các hoạt động ngân hàng và kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Đồng quan điểm, Moussu & Ctg (2014) cũng khẳng định rằng: “Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, cung cấp các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, trao đổi và chuyển tiền, phục vụ nhu cầu của cả cá nhân và doanh nghiệp”. Trong đó, hoạt động tín dụng là hoạt động cốt lõi của NHTM giúp chuyển giao vốn từ người có tiền sang người cần vốn cho sản xuất kinh doanh, thông qua hợp đồng tín dụng (Cecchetti và Schoenholtz, 2011).
Trong hợp đồng tín dụng này, ngân hàng cam kết cung cấp khoản vay với các điều khoản về mục đích, thời hạn và lãi suất hoàn trả (Khalid & Ctg, 2012). Tóm lại, hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ chủ chốt tạo ra thu nhập chính, liên quan đến việc cho vay và hỗ trợ tài chính cho các cá nhân, tổ chức, hay doanh nghiệp nhưng cũng là nguyên nhân chủ yếu của các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. ❖ Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Theo Gourinchas và các đồng nghiệp (2001) cho biết: “Rủi ro tín dụng là rủi rủi ro phụ thuộc vào khả năng thanh khoản của khách hàng và tình hình kinh tế - xã hội tổng thể. Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại phát sinh khi người vay không có khả năng trả nợ đúng hạn do mất khả năng thanh toán hoặc cố ý vi phạm các điều khoản đã thỏa thuận (Gestel & Baesens, 2009).
Là rủi ro gây tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ các nghĩa tài chính theo hợp đồng (Jorion, 2009). Đồng quan điểm, những quy định của các Thông tư 13/2018, Thông tư 40/2018, Thông tư 11/2021 và Thông tư 14/2023 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng 8 nhận định: Rủi ro tín dụng là khả năng mà bên vay không thực hiện hoặc không có khả năng hoàn trả một phần hoặc toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết”. Quy định này nhấn mạnh vai trò quan trọng của quản lý và đánh giá rủi ro tín dụng để đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng không chỉ mang nguồn thu chủ yếu của ngân hàng mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro (Cecchetti & Schoenholtz, 2011).
Thật vậy, hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng và việc cho vay càng nhiều cũng mang lại lợi nhuận lớn hơn. Tuy nhiên, ngân hàng luôn đối mặt với rủi ro tín dụng do không thể biết chắc chắn khả năng khách hàng trả nợ trong tương lai. Tóm lại, rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là khả năng mất mát do khách hàng không thực hiện hoặc không hoàn trả đầy đủ và kịp thời các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. ❖ Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại được hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau và có mức độ tác động không đồng đều, phức tạp.
Theo nhận định của tác giả, có 03 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng, bao gồm: Thứ nhất, nguyên nhân khách quan bao gồm: (1) Môi trường tự nhiên: Thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chiến tranh. (2) Môi trường kinh tế: Sự bất ổn như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán, tỷ lệ thất nghiệp. (3) Môi trường pháp lý: Các quy định và luật pháp chưa rõ ràng, minh bạch, còn chồng chéo và mâu thuẫn. Thứ hai, nguyên nhân đến từ bên đi vay, bao gồm: (1) Cá nhân vay: Công việc không thuận lợi, quản lý tài chính kém, gặp rủi ro cá nhân hoặc tiêu tiền bừa bãi, dẫn đến mất khả năng hoàn trả nợ đúng hạn.
(2) Doanh nghiệp vay: Sử dụng vốn sai mục đích, quản lý yếu kém, thiếu chuyên môn và minh bạch, mất khả năng hoặc thiếu thiện chí trả nợ. Thứ ba, nguyên nhân đến từ bên cho vay (NHTM): (1) Thủ tục và chính sách: Gặp vướng mắc về giấy tờ, quy trình, chính sách lỏng lẻo, không nhất quán, thiếu rõ ràng và không sát thực tiễn. (2) Phân tích và giám sát: Chưa thực sự chú trọng công tác 9 phân tích và thẩm định khách hàng, không có phương án giám sát quá trình sử dụng vốn vay. (3) Trình độ cán bộ: Cán bộ tín dụng thiếu kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đáng kể trong quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Thanh khoản và rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại ❖ Thanh khoản trong ngân hàng thương mại Theo Drehmann & Nikolaou (2009), thanh khoản là khả năng của trung gian tài chính thực hiện thanh toán kịp thời, là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền và giải ngân các khoản tín dụng nhanh chóng (Basel, 2010). Nếu một ngân hàng thương mại có tính thanh khoản cao giúp giảm rủi ro thanh khoản và nâng cao sự ổn định của ngân hàng (Bitar và đồng nghiệp, 2017; Smaoui và đồng nghiệp, 2019). Đối với ngân hàng, tính thanh khoản hay việc chuyển đổi tài sản mà không giảm giá trị, tỉ lệ nghịch với rủi ro thanh khoản (Nikolaou, 2009). Tóm lại, khả năng thanh khoản của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong sự ổn định của hệ thống tài chính.
❖ Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Theo nghiên cứu của các tác giả Gup và Kolari (2005), Nikolaou (2009)….cho rằng: “Rủi ro thanh khoản là tình trạng thiếu hụt tạm thời nguồn tài chính để đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn, dẫn đến việc phải huy động vốn với chi phí cao”. Khi các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó thì cũng được xem như các TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó đang gặp rủi ro thanh khoản (Thông tư 08/2017 & Thông tư 13/2018). Rủi ro này đặc biệt nổi lên trong các khủng hoảng tài chính khi ngân hàng gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi hoặc giải ngân các khoản vay. Để giải quyết vấn đề này, các tổ chức giám sát tài chính như Ủy ban Basel đã khuyến khích quản lý tích cực rủi ro thanh khoản.
Rủi ro rút tiền kéo dài (RRTK) được định nghĩa là nguy cơ mà ngân hàng không thể thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, hoặc phải chi trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ này (IMF, 2010; 10 Thông tư 08/2017/TT-NHNN). Tóm lại, khi các ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, thua lỗ và có thể dẫn đến phá sản. ❖ Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại được hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau và có mức độ tác động không đồng đều, phức tạp. Theo nhận định của tác giả, có 02 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro thanh khoản, bao gồm: Thứ nhất, các nguyên nhân bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng bao gồm: − Sự biến động của lãi suất: Biến động lãi suất có thể làm thay đổi dòng tiền gửi và cho vay của ngân hàng, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.
− Chính sách tiền tệ: Các biện pháp như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu của ngân hàng trung ương có thể tăng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng thương mại khi thay đổi. − Hoạt động đầu tư, kinh doanh của khách hàng: Các hoạt động này có thể tăng cường nhu cầu về tiền và áp lực lên thanh khoản của ngân hàng, đặc biệt vào cuối năm. − Biến động thị trường: Như khủng hoảng kinh tế, lạm phát, có thể gây sức ép lớn lên ngân hàng thương mại. Thứ hai, các nguyên nhân nội tại của ngân hàng gây rủi ro thanh khoản, có thể bao gồm việc vay mượn quá mức hoặc sử dụng quá nhiều khoản tiền ngắn hạn để đầu tư dài hạn, dẫn đến mất cân đối về thời hạn giữa sử dụng và nguồn vốn, gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng.
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Các ngân hàng thương mại với chức năng luân chuyển dòng vốn, huy động vốn từ dân cư với lãi suất thấp và cho vay lại với lãi suất cao hơn. Do đó, họ đối mặt đồng thời với rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản (Bryant, 1980; Diamond, 1997; Diamond & Dybvig, 1983; Qi, 1994). Tuy nhiên, quan điểm về mối quan hệ này chưa thống nhất. Một số nghiên cứu của Acharya & Viswanathan (2011), Gorton & Metrick (2012), He & Xiong (2012) cho rằng rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có 11 mối quan hệ cùng chiều.
Khi các ngân hàng cho vay nhiều dự án rủi ro, khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền giảm, uy tín giảm dẫn đến rủi ro tín dụng và thanh khoản cùng tăng. Ngược lại, một số nghiên cứu trong giai đoạn khủng hoảng cho thấy mối quan hệ tương quan âm giữa hai loại rủi ro này (Acharya et al. Nhìn chung, các nghiên cứu trên cho thấy rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối liên hệ chặt chẽ. Tổng quan về sự ổn định của các ngân hàng thương mại 2.
Khái quát về sự ổn định của ngân hàng thương mại 2.