phần mở đầu, kết luận và các phần phụ khác, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Phú Tài. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm và phân loại 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng Khái niệm rủi ro tín dụng đƣợc rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đƣa ra những ý kiến khác nhau, tiêu biểu nhƣ: Koch (1995) cho rằng “một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Fitch (1997) quan niệm rằng “rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay không thanh toán đƣợc nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) thì “Rủi ro tín dụng ngân hàng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn”. Theo Joel Bessis (2012) cho rằng: “Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Theo các quy định, RRTD chia thành một vài thành phần rủi ro tín dụng: + Rủi ro vỡ nợ. + Rủi ro giảm uy tín. + Rủi ro nguy cơ, tức là sự bất trắc về giá trị tƣơng lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chƣa biết. + Thua lỗ do vỡ nợ (LGD) thƣờng ít hơn lƣợng tiền phải trả bởi vì sự phục hồi nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba.
9 + Rủi ro đối tác là hình thức RRTD cụ thể xuất phát từ phái sinh, có thể chuyền đổi từ đối tác này sang đối tác khác”. Theo Thông tƣ số 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Thống đốc NHNN Việt Nam về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (sau đây gọi chung là thỏa thuận) với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng sai hẹn hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Biểu hiện nhƣ: ngân hàng sẽ không thu đƣợc lãi đúng hạn, không thu đƣợc vốn đúng hạn, không thu đủ lãi, không thu đủ vốn.
Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chƣa hoàn thành. Giao dịch tín dụng chỉ đƣợc coi là hoàn thành khi ngân hàng thu hồi đƣợc khoản tín dụng gồm cả gốc và lãi. RRTD luôn tiềm ẩn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Điều này có nghĩa là một khoản vay dù chƣa quá hạn nhƣng vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp cũng chƣa thể nói RRTD thấp, nguy cơ RRTD sẽ cao nếu danh mục đầu tƣ tập trung vào một nhóm khách hàng hoặc một ngành tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Vì vậy, ngân hàng không thể loại trừ khả năng rủi ro, luôn chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và hạn chế tối đa những thiệt hại tổn thất khi rủi ro xảy ra. Rủi ro tín dụng có ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi RRTD xảy ra nó có thể gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đối với hoạt động kinh tế - xã hội của một quốc gia, thậm chí có thể lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Có thể nói, RRTD giống nhƣ là “ngòi nổ” tự mình nó phá hoại và kích nổ sự phá hoại lan truyền.
Thứ nhất, RRTD gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng đó là: NHTM và khách hàng. Đối với các khách hàng khi phát sinh RRTD thì phần lớn đều trong tình trạng kinh doanh sa sút hoặc nằm trên bờ vực phá sản. Còn đối 10 với các NHTM, hậu quả to lớn tác động trên nhiều phƣơng diện: Chi phí gia tăng do việc phải trích lập dự phòng tồn thất hoặc các chi phí liên quan trong vấn đề xử lý các khoản rủi ro đó. Bên cạnh đó, do e ngại rủi ro sẽ làm cho các ngân hàng hạn chế cho vay, doanh thu hạn chế khiến hậu quả kinh doanh giảm, thậm chí bị thua lỗ, uy tín và vị thế trên thị trƣờng giảm sút có thể dẫn đến phá sản.
Rủi ro tín dụng kéo dài làm thất thoát lƣợng vốn lớn: vì ngân hàng có chức năng là đi vay để cho vay, do không thu hồi đƣợc nợ trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, mất cân đối trong thu chi làm cho lợi nhuận bị giảm sút và có thể bị rơi vào mất khả năng chi trả thanh toán hoặc có thể trầm trọng hơn thì dẫn đến tình trạng phá sản. Thứ hai, rủi ro tín dụng có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả quốc gia. Vì giữa các ngân hàng luôn có sự ràng buộc và liên quan với nhau. Sự ràng buộc tất yếu và ngày càng chặt chẽ này mà RRTD có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ thống trung gian tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng mà một số trƣờng hợp điển hình là khủng hoảng đã xảy ra ở một số nƣớc Đông Nam Á hay Argentina.
Nếu một ngân hàng bị phá sản sẽ có những tác động dây chuyền và vô hình chung các ngân hàng khác cũng bị ảnh hƣởng nghiêm trọng. Thứ ba, rủi ro tín dụng có thể gây ra hậu quả tiêu cực tới mọi đối tƣợng trong xã hội. Vì bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một trung gian tài chính, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế và mang tính chất xã hội cao nên khi mà RRTD gây ra sự phá sản của một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế mất ổn định, làm giảm lòng tin của ngƣời dân vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng nhƣ hiệu lực chính sách tiền tệ của Chính phủ.
Tóm lại rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, trên thực tế là việc khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng, dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà ngƣời ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành: rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch.
- Rủi ro danh mục: là loại hình RRTD phát sinh trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, vừa mang tính chất chủ quan, lại vừa tác động của các nhân tố khách quan, bao gồm: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố bên trong của mỗi khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực hoạt động.
+ Rủi ro tập trung: là rủi ro phát sinh trong trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cũng một loại hình cho vay rủi ro cao. - Rủi ro giao dịch: là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phƣơng án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng.
+ Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Nếu căn cứ vào tính chất tác động, rủi ro tín dụng đƣợc chia thành: rủi ro 12 khách quan và rủi ro chủ quan. - Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, địch họa, ngƣời vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi ngƣời vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
- Rủi ro chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân chủ quan thuộc về ngƣời vay và ngƣời cho vay vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.