CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm ngân hàng thương mại và các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng thương mại và các hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng thương mại Khái niệm NHTM Theo tài liệu học tập Quản trị Ngân hàng của PGS. Đỗ Thị Kim Hảo và các cộng sự (2022) thì có nhiều cách khác nhau để định nghĩa ngân hàng thương mại: dựa theo các chức năng trong nền kinh tế, NHTM được định vị như một trung gian tài chính luân chuyển vốn giữa người dư thừa vốn và người thiếu hụt và trung gian thanh toán hỗ trợ chi trả cho hàng hóa và dịch vụ.
Dựa trên cơ sở các nghiệp vụ cung cấp cho khách hàng, NHTM được hiểu là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng tiết kiệm và các giao dịch thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Dựa trên giác độ quản lý luật pháp, như ở Mỹ “ngân hàng được định nghĩa như một công ty thành viên của công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang”. Nhìn chung, có thể hiểu NHTM là một loại hình trung gian tài chính, cung cấp danh mục dịch vụ tài chính đa dạng, với hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán tiền mục tiêu lợi nhuận. Các hoạt động kinh doanh chính của NHTM: Theo luật Tổ chức tín dụng năm 2010, các hoạt động kinh doanh mà NHTM được thực hiện bao gồm: • Các hoạt động ngân hàng: - Nhận tiền gửi: hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
11 - Cấp tín dụng: việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản: việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. • Các hoạt động kinh doanh khác: - Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; - Các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn; - Tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp và tư vấn đầu tư; - Mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp; dịch vụ môi giới tiền tệ; - Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. Tóm lại, các NHTM được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và một số hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi nhuận.
Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Theo TS. Nguyễn Thu Hiền (2017) thì khả năng sinh lời là một trong các đo lường quan trọng đánh giá kết quả tài chính của các NHTM, được xem xét trên cơ sở kết hợp kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng. Khả năng sinh lời là nền tảng quan trọng giúp các NH đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, từ đó kinh doanh hiệu quả. Theo Nguyễn Thị Xuân Liễu (2010), phân tích khả năng sinh lời là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh và các nguồn tiềm năng 12 cần khai thác.
Từ đó đề ra các phương án và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Theo Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Đức Trung (2011) cho rằng: khả năng sinh lời là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Nó không chỉ là nguồn tài chính tích luỹ để mở rộng sản xuất mà còn là nguồn tài chính quan trọng để thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, tăng thu nhập quốc dân và khuyến khích người lao động gắn bó với công việc của mình. Bất kì một NHTM nào khi kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Do đó, các NHTM vô cùng chú trọng đến khả năng sinh lợi của mình. NHTM có khả năng sinh lời thì mới có khả năng tồn tại và phát triển. Tóm lại, khả năng sinh lời của NHTM thể hiện hiệu quả trong việc quản lý kinh doanh và sử dụng nguồn lực của ngân hàng. Việc đánh giá khả năng sinh lời giúp cho các NHTM nhìn nhận lại kết quả kinh doanh từ đó đưa ra các chiến lược phù hợp.
Khả năng sinh lời luôn được các nhà quản trị điều hành ngân hàng, khách hàng và các nhà đầu tư quan tâm. Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Trong các tài liệu, khả năng sinh lời của ngân hàng, thường được đo bằng Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) do ngân hàng báo cáo. Từ đó giúp các nhà quản trị hay nhà đầu tư có cái nhìn khái quát nhất về tình hình kinh doanh NHTM, đưa ra các chính sách quyết định phù hợp. Chỉ số lợi nhuận ròng trên TS - ROA Chỉ số ROA (Return On Asset) hay lợi nhuận trên tổng tài sản là chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản.
Lợi nhuận sau thuế Công thức: ROA = x 100% Tổng tài sản bình quân 13 Chỉ số ROA cho biết với 1 đồng tài sản đầu tư ban đầu, NHTM có thể tạo được ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, thể hiện khả năng của hội đồng quản trị trong việc chuyển tài sản của ngân hàng thành lợi nhuận. Chỉ số ROA càng cao càng tốt, cho thấy ngân hàng đang sử dụng tốt nguồn lực của mình để tạo ra lợi nhuận. Chỉ số lợi nhuận ròng trên VCSH - ROE Chỉ số ROE (Return On Equity) hay tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đo lường khả năng sinh lời của một khoản đầu tư trên mỗi đồng vốn bỏ ra. Cũng có thể hiểu rằng chỉ số này đo lường khả năng sử dụng vốn hiệu quả của NHTM.
Chỉ số ROE thường được sử dụng để so sánh sức khỏe của NHTM này với NHTM khác. Lợi nhuận sau thuế Công thức: ROE = x 100% Vốn chủ sở hữu bình quân ROE phản ánh thu nhập các cổ đông nhận được từ hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đây là chỉ tiêu hoạt động đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh. Thông thường, chỉ số ROE càng cao càng chứng tỏ NHTM sử dụng càng có hiệu quả đồng vốn của cổ đông và khả năng tạo ra lợi nhuận càng cao.
Chỉ số ROE cao còn có có nghĩa là NHTM đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình kinh doanh. Chỉ số NIM Tỷ lệ NIM là đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động cho vay theo mức tài sản có sinh lãi bình quân. Nó thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận trong hoạt động của lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, phản ánh tốc độ tăng trưởng nguồn thu từ lãi so với tăng chi phí. NIM phản ảnh chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay của ngân hàng.
NIM đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp. Công thức: 14 Thu nhập lãi thuần Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) = x100 Tổng tài sản sinh lời từ lãi bình quân NIM càng cao càng tốt cho thấy ngân hàng đã tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và giảm thiểu chi phí từ lãi, giúp gia tăng lợi nhuận. Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Các nhân tố bên trong là những yếu tố chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các quyết định quản lý và mục tiêu chính sách của ngân hàng như là quy mô ngân hàng, chính sách dự phòng rủi ro, an toàn vốn, quản lý chi phí và dư nợ cho vay. Mặt khác, các nhân tố bên ngoài là các biến số phản ánh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lạm phát,… nơi tổ chức tài chính hoạt động.
Các nhân tố bên trong 1. Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng hay tổng tài sản là tất cả nguồn lực mà ngân hàng có và đang nắm giữ. Thông qua các nguồn lực này, các NHTM hoạt động kinh doanh để đạt được mục tiêu cụ thể mà mục tiêu quan trọng nhất là gia tăng, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vậy nên, quy mô tài sản thường là để các nhà quản trị xem xét để đưa ra các chính sách chiến lược phát triển.
Đây tiêu chí để giải thích cho sự khác biệt về hoạt động kinh doanh, công tác quản lý, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Thường những NHTM lớn có lợi thế kinh tế nhờ quy mô hơn so với những ngân hàng nhỏ. Thể hiện tiềm lực tài chính mạnh để có thể mở rộng hơn quy mô trong khi chi phí tăng lên là rất nhỏ. Tuy nhiên, khi đạt đến ngưỡng nhất định, lợi thế này sẽ không còn hiệu quả nữa.
Nghiên cứu của Antonia Davydenko (2011) chỉ ra mối tương quan giữa quy mô ngân hàng với khả năng sinh lời là tích cực. Cho thấy tính kinh tế theo quy mô và gợi ý rằng lợi nhuận cao hơn có thể thu được từ việc sáp nhập trong ngân hàng Ucraina. Trong nền kinh tế bất ổn, quy mô ngân hàng cũng có mối quan hệ mật thiết với uy tín và độ tin cậy. Do đó, bằng cách sáp nhập sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn.
15 Theo Nguyễn Thanh Phương và Đặng Thị Lan Phương (2022) chỉ ra quy mô ngân hàng ảnh hưởng thuận chiều với ROA với các NHTM Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020.