Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch trong nền kinh tế Việt Nam, đóng vai trò trung gian tài chính thực hiện luân chuyển vốn từ chủ thể thặng dư sang chủ thể thiếu hụt, đồng thời cung ứng dịch vụ thanh toán cho toàn xã hội. Trong cơ chế thị trường, tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu then chốt nhằm bảo đảm khả năng duy trì, mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trước sức ép từ quá trình hội nhập quốc tế lẫn sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (FinTech).
Giai đoạn 2013 - 2022 chứng kiến nhiều biến động phức tạp của kinh tế vĩ mô, điển hình là cú sốc từ đại dịch Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng, đình trệ sản xuất và gia tăng nợ xấu. Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, các NHTM đã triển khai chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm phí theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 14/2021/TT-NHNN. Cùng thời điểm, thị trường chứng khoán (TTCK) và bất động sản trải qua chu kỳ biến động mạnh từ giai đoạn bùng nổ thanh khoản 2020 - 2021 sang điều chỉnh sâu trong năm 2022. Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chưa xem xét tác động từ biến động của TTCK đến hiệu quả hoạt động ngân hàng sau dịch bệnh. Đây chính là khoảng trống thực tiễn để tác giả thực hiện khóa luận.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời (KNSL) của NHTM.
- Xây dựng mô hình hồi quy kinh tế lượng nhằm đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố đến KNSL của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022.
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm gia tăng KNSL cho hệ thống NHTM Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa bằng 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Quan điểm và các thước đo KNSL của NHTM là gì; những nhân tố nào tác động đến KNSL?
- Thực trạng kinh tế vĩ mô và KNSL của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022 diễn biến ra sao?
- Mức độ ảnh hưởng thực tế của từng nhân tố đến KNSL của các NHTM trong giai đoạn 2013 - 2022 như thế nào?
- Cần triển khai các giải pháp và khuyến nghị nào để nâng cao KNSL cho các NHTM?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến KNSL của NHTM.
- Phạm vi không gian: 19 NHTM tại Việt Nam có quy mô tổng tài sản tính đến năm 2022 đạt trên 100.000 tỷ đồng (gồm: VCB, BID, TCB, CTG, STB, VPB, MBB, ACB, SHB, SSB, VIB, TPB, EIB, HDB, OCB, ABB, LPB, MSB, NAB).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2013 đến hết năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận dựa trên định nghĩa NHTM theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và giáo trình Quản trị Ngân hàng của Đỗ Thị Kim Hảo và cộng sự (2022), xác định NHTM là loại hình trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. KNSL được hiểu là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả quản trị và năng lực khai thác nguồn lực (Nguyễn Thu Hiền, 2017; Nguyễn Thị Xuân Liễu, 2010; Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Đức Trung, 2011). Các chỉ tiêu đo lường KNSL gồm có:
- Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân: $\text{ROA} = (\text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Tổng tài sản bình quân}) \times 100%$
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân: $\text{ROE} = (\text{Lợi nhuận sau thuế} / \text{Vốn chủ sở hữu bình quân}) \times 100%$
- Tỷ lệ thu nhập lãi thuần: $\text{NIM} = (\text{Thu nhập lãi thuần} / \text{Tổng tài sản sinh lời từ lãi bình quân}) \times 100%$
Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cân bằng (balanced panel data) với 190 quan sát (19 ngân hàng $\times$ 10 năm). Khung mô hình được kế thừa từ nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008) cùng Võ Thị Phương (2017), thiết lập dạng hàm như sau:
$$\text{ROA}{it} = \beta_0 + \beta_1 \text{LnASSET}{it} + \beta_2 \text{LLP}{it} + \beta_3 \text{DP}{it} + \beta_4 \text{LOAN}{it} + \beta_5 \text{EA}{it} + \beta_6 \text{CIR}{it} + \beta_7 \text{GDPGR}{it} + \beta_8 \text{INF}{it} + \beta_9 \text{INDEXGR}{it} + e_{it}$$
$$\text{ROE}{it} = \beta_0 + \beta_1 \text{LnASSET}{it} + \beta_2 \text{LLP}{it} + \beta_3 \text{DP}{it} + \beta_4 \text{LOAN}{it} + \beta_5 \text{EA}{it} + \beta_6 \text{CIR}{it} + \beta_7 \text{GDPGR}{it} + \beta_8 \text{INF}{it} + \beta_9 \text{INDEXGR}{it} + e_{it}$$
| Tên biến |
Ký hiệu |
Cách xác định |
Kỳ vọng tác động |
| Quy mô ngân hàng |
$\text{LnASSET}$ |
$\text{Logarit tự nhiên của Tổng tài sản}$ |
$+$ |
| Rủi ro tín dụng |
$\text{LLP}$ |
$\text{Dự phòng rủi ro tín dụng} / \text{Dư nợ cho vay}$ |
$-$ |
| Tỷ lệ tiền gửi khách hàng |
$\text{DP}$ |
$\text{Tiền gửi khách hàng} / \text{Tổng tài sản}$ |
$-$ |
| Tỷ lệ cho vay khách hàng |
$\text{LOAN}$ |
$\text{Dư nợ cho vay khách hàng} / \text{Tổng tài sản}$ |
$+$ |
| Quy mô vốn chủ sở hữu |
$\text{EA}$ |
$\text{Vốn chủ sở hữu} / \text{Tổng tài sản}$ |
$+$ |
| Chi phí hoạt động |
$\text{CIR}$ |
$\text{Chi phí hoạt động} / \text{Tổng thu nhập hoạt động}$ |
$-$ |
| Tăng trưởng kinh tế |
$\text{GDPGR}$ |
$(\text{GDP}t - \text{GDP}{t-1}) / \text{GDP}_{t-1}$ |
$+$ |
| Lạm phát |
$\text{INF}$ |
$\text{Chỉ số giá tiêu dùng (CPI hằng năm)}$ |
$+$ |
| Tăng trưởng TTCK |
$\text{INDEXGR}$ |
$(\text{VN-Index}t - \text{VN-Index}{t-1}) / \text{VN-Index}_{t-1}$ |
$+$ |
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán của 19 NHTM, hệ thống thông tin SSI iBoard, Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và dữ liệu giao dịch từ Investing.com. Quy trình ước lượng trên phần mềm Stata 17 thực hiện qua 6 bước: thống kê mô tả, ma trận tương quan, hồi quy Pooled OLS kết hợp kiểm tra hệ số phóng đại phương sai (VIF), ước lượng mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM), kiểm định Hausman và F-test để lựa chọn mô hình tối ưu, kiểm tra khuyết tật phương sai sai số thay đổi (Modified Wald test) và tự tương quan (Wooldridge test), sau đó khắc phục bằng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại
Chương này chuẩn hóa hệ thống khái niệm về chức năng trung gian tài chính và các mảng nghiệp vụ cốt lõi của NHTM theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tác giả phân tích nội dung, ý nghĩa và công thức xác định của ba chỉ số hiệu quả sinh lời: ROA, ROE và NIM. Đồng thời, chương 1 chia tách và luận giải chi tiết 6 nhân tố vi mô thuộc nội tại ngân hàng (quy mô tài sản, tỷ lệ cho vay, rủi ro tín dụng, tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động) cùng 3 nhân tố vĩ mô bên ngoài (tăng trưởng GDP, lạm phát CPI và biến động chỉ số chứng khoán).
Bên cạnh lý luận cơ bản, chương 1 tổng hợp các kết quả thực nghiệm từ các công trình nghiên cứu quốc tế (Athanasoglou và cộng sự, 2008 tại Đông Nam Âu; Fadzlan Sufian và Royfaizal Razali Chong, 2008 tại Philippines; Anna P. Vong, 2009 tại Ma Cao; Antonia Davydenko, 2011 tại Ukraine; Fatih Kayhan, 2023 tại Thổ Nhĩ Kỳ) và các nghiên cứu trong nước (Đoàn Việt Hùng, 2016; Võ Thị Phương, 2017; Nguyễn Thanh Phương và Đặng Thị Lan Phương, 2022). Qua đó, tác giả chỉ ra khoảng trống về việc bổ sung biến tăng trưởng VN-Index vào mô hình phân tích tại Việt Nam.
Chương 2: Khái quát về tình hình kinh doanh và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2022
Chương 2 phác thảo bức tranh toàn cảnh về môi trường kinh tế vĩ mô và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong 10 năm:
- Tăng trưởng GDP: Duy trì ổn định ở mức 5% - 7%/năm giai đoạn 2013 - 2019, giảm sâu trong hai năm 2020 - 2021 do đại dịch Covid-19 (chạm đáy 2,58% năm 2021) và phục hồi mạnh mẽ đạt 8,02% vào năm 2022.
- Lạm phát CPI: Kiểm soát tốt dưới ngưỡng 4% của Quốc hội, đạt mức thấp nhất 0,63% vào năm 2015, năm 2020 đạt 3,23%, năm 2021 đạt 1,84% và năm 2022 tăng lên 3,21%.
- Diễn biến TTCK: Chỉ số VN-Index tăng từ khoảng 500 điểm (năm 2013) lên 970 điểm (năm 2017). Trong giai đoạn 2020 - 2021, VN-Index tăng 2,3 lần từ 662 điểm lên mức đỉnh 1.500 điểm, trước khi sụt giảm 32% trong 10 tháng đầu năm 2022.
- Cấu trúc hệ thống: Tính đến năm 2022, toàn hệ thống có 46 NHTM (4 NHTM nhà nước, 31 NHTMCP, 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 2 ngân hàng liên doanh). Nhóm 4 ngân hàng có vốn nhà nước (Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Agribank) chiếm hơn một nửa tổng tài sản toàn ngành với quy mô vượt 1 triệu tỷ đồng mỗi ngân hàng. Có 5 ngân hàng sở hữu vốn chủ sở hữu vượt 100.000 tỷ đồng gồm Vietcombank, Techcombank, Vietinbank, BIDV và VPBank.
- Hoạt động nghiệp vụ: Tăng trưởng tín dụng đạt đỉnh 18,25% năm 2016 rồi giảm dần xuống 10,80% năm 2018 do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) siết chặt dòng vốn vào lĩnh vực rủi ro. Tăng trưởng huy động vốn giảm dần từ mức 16,46% (năm 2016) xuống 12,24% (năm 2018), chịu tác động từ lộ trình siết trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 45% xuống 40% (áp dụng từ tháng 01/2019). Tỷ lệ nợ xấu nội bảng kiểm soát dưới 2%, chạm đáy 1,31% vào năm 2020 nhờ cơ chế khoanh giãn nợ, sau đó tăng lên 1,44% năm 2021 và tiếp tục tăng trong năm 2022; tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay đạt 1,96% năm 2021.
- Khả năng sinh lời: ROA toàn ngành tạo đáy ở mức 0,77% năm 2016 rồi tăng trưởng mạnh; năm 2021 ROA tăng thêm 0,18% và ROE tăng 1,17%. NIM toàn ngành duy trì mức 3% - 3,3% giai đoạn 2016 - 2020, đạt 3,36% năm 2020 và tăng lên 3,82% vào năm 2022 nhờ việc đẩy mạnh mảng bán lẻ và gia tăng thu nhập ngoài lãi. Thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng đột biến: giao dịch qua Internet tăng 40,55%, qua điện thoại di động tăng 92,3%, và qua QR code tăng 210,6%.
Chương 3: Xây dựng mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2013 - 2022
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm từ dữ liệu bảng của 19 NHTM:
| Biến số |
Số quan sát |
Giá trị trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
| $\text{ROA}$ |
190 |
0,0102 (1,02%) |
0,00696 (0,70%) |
0,0003 (0,03%) |
0,0324 (3,24%) |
| $\text{ROE}$ |
190 |
0,1227 (12,27%) |
0,0650 (6,50%) |
- |
- |
| $\text{LnASSET}$ |
190 |
33,07 |
0,93 |
30,99 |
35,29 |
| $\text{LLP}$ |
190 |
0,0140 (1,40%) |
- |
0,0031 (0,31%) |
0,0670 (6,70%) |
| $\text{DP}$ |
190 |
- |
- |
- |
- |
| $\text{LOAN}$ |
190 |
- |
0,1110 (11,10%) |
0,2252 (22,52%) |
0,8006 (80,06%) |
| $\text{EA}$ |
190 |
0,0827 (8,27%) |
- |
- |
- |
| $\text{CIR}$ |
190 |
- |
- |
- |
- |
| $\text{GDPGR}$ |
190 |
0,0587 (5,87%) |
0,0170 (1,70%) |
0,0258 (2,58%) |
0,0802 (8,02%) |
| $\text{INF}$ |
190 |
0,0321 (3,21%) |
- |
0,0063 (0,63%) |
0,0660 (6,60%) |
| $\text{INDEXGR}$ |
190 |
0,1290 (12,90%) |
0,1712 (17,12%) |
-0,0845 (-8,45%) |
0,4748 (47,48%) |
Quy trình kiểm định và khắc phục mô hình:
- Ma trận hệ số tương quan và kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) được tiến hành nhằm loại trừ hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các biến độc lập.
- Kiểm định F-test cho thấy mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn mô hình Pooled OLS. Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn giữa mô hình FEM và mô hình REM.
- Các kiểm định chẩn đoán khuyết tật đối với mô hình FEM phát hiện sự hiện diện của hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Modified Wald test) và hiện tượng tự tương quan (Wooldridge test) ở cả hai mô hình ROA và ROE.
- Tác giả thực hiện ước lượng hồi quy bằng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục triệt để hai khuyết tật trên, đảm bảo các ước lượng thu được không thiên lệch và có hiệu quả thống kê cao.
Chương 4: Đề xuất, khuyến nghị nhằm gia tăng lợi nhuận của các ngân hàng thương mại
Dựa trên kết quả hồi quy và thực trạng hoạt động, chương 4 xây dựng hệ thống khuyến nghị thực tiễn:
- Nhóm giải pháp dành cho các NHTM: Tăng cường năng lực vốn tự có để củng cố tấm đệm tài chính; nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng nhằm hạ thấp tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro; tối ưu hóa chi phí hoạt động (CIR) thông qua số hóa quy trình vận hành; đa dạng hóa cơ cấu doanh thu từ mảng dịch vụ ngoài lãi; chủ động bám sát diễn biến thị trường chứng khoán để quản trị danh mục chứng khoán kinh doanh và đầu tư hiệu quả.
- Nhóm giải pháp dành cho Ngân hàng Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt; tăng cường công tác thanh tra, giám sát an toàn vĩ mô; thúc đẩy lộ trình áp dụng chuẩn mực Basel II nâng cao và Basel III; chỉ đạo kiểm soát tín dụng đổ vào các phân khúc tiềm ẩn rủi ro cao.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Khóa luận lượng hóa mức độ biến động của hiệu quả sinh lời và các chỉ số tài chính chủ chốt qua chuỗi dữ liệu 10 năm:
- Hiệu quả tài chính trung bình của mẫu nghiên cứu ghi nhận tỷ suất ROA bình quân đạt 1,02% (biên độ dao động từ 0,03% đến 3,24%) và ROE bình quân đạt 12,27% (độ lệch chuẩn 6,50%). Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản bình quân đạt 8,27%, phản ánh đặc thù sử dụng đòn bẩy tài chính cao của ngành ngân hàng.
- Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ (LLP) bình quân ở mức 1,40%, dao động từ 0,31% đến 6,70%. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LOAN) biến thiên mạnh trong khoảng từ 22,52% đến 80,06% với độ lệch chuẩn 11,10%.
- Về môi trường vĩ mô, nghiên cứu ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 5,87%/năm, lạm phát CPI trung bình ở mức 3,21%/năm và mức tăng trưởng bình quân của chỉ số VN-Index đạt 12,90%/năm (độ lệch chuẩn 17,12%, dao động từ mức thấp nhất -8,45% đến cao nhất 47,48%).
Đóng góp mới của khóa luận so với các nghiên cứu trong nước trước đây thể hiện ở hai điểm:
- Cập nhật chuỗi dữ liệu bảng kéo dài đến năm 2022, phản ánh đầy đủ tác động của cú sốc đại dịch Covid-19 và giai đoạn phục hồi kinh tế đối với hiệu quả kinh doanh của các NHTM.
- Đưa thêm biến tăng trưởng thị trường chứng khoán ($\text{INDEXGR}$) vào mô hình kinh tế lượng phân tích KNSL của ngân hàng, bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tính liên thông giữa thị trường tài chính và kết quả kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Khóa luận tồn tại một số giới hạn thực tiễn được tác giả thẳng thắn chỉ ra:
- Mẫu nghiên cứu mới dừng lại ở 19 NHTM có quy mô tài sản trên 100.000 tỷ đồng, chưa bao quát toàn bộ 46 tổ chức tín dụng trong hệ thống (đặc biệt là nhóm NHTM quy mô nhỏ, ngân hàng 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh).
- Khung phân tích mới tập trung vào 9 biến độc lập (6 biến tài chính nội tại và 3 biến vĩ mô), chưa bao hàm các yếu tố phi tài chính hoặc các chỉ tiêu quản trị hiện đại (như mức độ hoàn thiện chuyển đổi số, cơ cấu sở hữu, tỷ lệ an toàn vốn CAR theo Basel II/III).
Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát cho toàn bộ các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam để nâng cao tính đại diện.
- Kéo dài chuỗi thời gian phân tích và đưa thêm các biến số đo lường rủi ro thanh khoản, thu nhập ngoài lãi, cùng các yếu tố thể chế vào hàm hồi quy.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng mô hình kinh tế lượng dữ liệu bảng, quy trình xử lý khuyết tật bằng phần mềm Stata 17 và kỹ thuật phân tích các báo cáo tài chính ngân hàng.
- Giảng viên và người làm nghiên cứu: Cung cấp bộ số liệu thống kê mô tả chi tiết của 19 NHTM trong giai đoạn 10 năm (2013 - 2022) cùng bảng tổng hợp các nghiên cứu tiền bối về khả năng sinh lời.
- Cán bộ quản trị và phân tích rủi ro tại các NHTM: Tham khảo cơ sở thực nghiệm về mối liên hệ giữa việc trích lập dự phòng, quản trị chi phí hoạt động và quản trị đòn bẩy vốn với tỷ suất sinh lời ròng.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận lựa chọn mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu ngân hàng và theo tiêu chí nào?
Mẫu nghiên cứu bao gồm 19 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2022 (tạo thành bộ dữ liệu bảng cân bằng với 190 quan sát). Mẫu được chọn từ các ngân hàng có quy mô tổng tài sản tính đến năm 2022 đạt trên 100.000 tỷ đồng, đại diện cho phần lớn tài sản của toàn hệ thống.
Biến phụ thuộc đại diện cho khả năng sinh lời trong mô hình là gì?
Tác giả sử dụng hai biến phụ thuộc truyền thống trong phân tích tài chính là Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROA) và Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE).
Chỉ số đo lường sự phát triển của thị trường chứng khoán được đưa vào mô hình như thế nào?
Biến số được sử dụng là tốc độ tăng trưởng chỉ số VN-Index ($\text{INDEXGR}$), xác định dựa trên biến động của mức điểm VN-Index bình quân các ngày giao dịch trong năm hiện hành so với năm trước đó.
Tại sao tác giả phải sử dụng mô hình hồi quy FGLS thay vì OLS hay FEM?
Qua các kiểm định chẩn đoán sau khi chạy mô hình tác động cố định (FEM), tác giả phát hiện mô hình xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Modified Wald test) và hiện tượng tự tương quan (Wooldridge test). Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) được sử dụng để khắc phục triệt để hai khuyết tật này, đảm bảo tính vững của các ước lượng.
Tỷ suất sinh lời ROA và ROE bình quân của các NHTM trong mẫu nghiên cứu đạt mức nào?
Theo kết quả thống kê mô tả trên 190 quan sát, ROA trung bình của các NHTM giai đoạn 2013 - 2022 là 1,02% (dao động từ 0,03% đến 3,24%), và ROE trung bình đạt 12,27% (độ lệch chuẩn 6,50%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Phương Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2022. Thông qua quy trình hồi quy dữ liệu bảng và kỹ thuật khắc phục khuyết tật mô hình bằng phương pháp FGLS trên Stata 17, tác giả đã đánh giá định lượng tác động của 6 nhân tố nội tại và 3 nhân tố vĩ mô đến hai chỉ số KNSL là ROA và ROE. Điểm nhấn của nghiên cứu nằm ở việc cập nhật chuỗi số liệu bao hàm giai đoạn dịch bệnh Covid-19 và tích hợp biến số thị trường chứng khoán vào hàm hồi quy. Các kết luận thực nghiệm thu được là căn cứ khoa học để tác giả đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao KNSL cho các NHTM và hỗ trợ công tác quản lý an toàn vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước.