Chương 1 đã giới thiệu khái quát về tính cấp thiết của nội dung đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng các câu hỏi nghiên cứu và thông qua các phương pháp kỹ thuật định lượng để tìm ra kết quả nghiên cứu. Nội dung chương 2 gồm hai phần: phần đầu nêu ra cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, phần hai của đề tài trích dẫn một số nghiên cứu thực nghiệm trước, đồng thời cũng làm cơ sở để xác định các biến nghiên cứu trong đề tài. Khái niệm về khả năng sinh lời Theo Ehow (2012) khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều Luận văn thạc sĩ Kinh tế kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính.
Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. “Khả năng sinh lợi là mục tiêu chính của tất cả các hoạt động kinh doanh.
Nếu không có khả năng sinh lợi, các hoạt động kinh doanh không thể tồn tại trong thời gian dài. Vì vậy, việc đo lường khả năng sinh lợi trong quá khứ, hiện tại và dự đoán khả năng sinh lợi trong tương lai đóng vai trò rất quan trọng” (Don Hofstrand, 2009). NHTM cũng là một doanh nghiệp, do đó, khả năng sinh lời NHTM có thể được hiểu là khả năng kinh doanh, sử dụng một cách hiệu quả tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp cho những chi phí của ngân hàng. Khả năng sinh 6 lời của ngân hàng chính là lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận ròng của ngân hàng (Rose, 2002).
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời -phản ánh tính hiệu quả của một đồng vốn kinh doanh - theo thông lệ quốc tế thường được phản ánh thông qua các chỉ tiêu sau: thu lãi biên ròng (NIM), thu nhập ròng trên tổng tài sản (ROA) và thu nhập ròng trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE). Tổng thu nhập lãi – Tổng chi phí lãi NIM = Tổng tài sản có Tỷ lệ thu lãi biên ròng (NIM) phản ánh năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên Luận văn thạc sĩ Kinh tế và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp. ROA là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó.
ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản có ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý. Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng, nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc 7 có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức. Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả của hoạt động hiệu quả, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (ROE) phản ánh mức thu nhập ròng trên vốn cổ phần của cổ đông (hay trên giá trị tài sản ròng hữu hình). Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu Luận Ngoài ra, trongvăn thạc quả hoạtsĩ độngKinh tếcác nhà quản trị quả sử dụng vốn chủ sở hữu. đánh giá hiệu của ngân hàng, ngân hàng còn xem xét mối quan hệ giữa chỉ tiêu ROA và ROE vì trên thực tế hai chỉ tiêu này phản ảnh sự đánh đổi cơ bản giữa rủi ro và thu nhập. Chính điều này cho thấy một ngân hàng có thể có ROA thấp nhưng vẫn có thể đạt được ROE khá cao do họ sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.
Khái niệm về rủi ro ngân hàng AllanWillett cho rằng: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi". Trong một nghiên cứu của JohnHaynes, và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của IrvingPfeffer thì rủi ro là : “ Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là 8 khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn.
Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.” Rủi ro tồn tại trong hoạt động kinh doanh dưới các hình thức khác nhau. Do đặc điểm đặc thù của hoạt động Ngân hàng làm cho hoạt động này có độ rủi ro lớn. Có các loại rủi ro chủ yếu sau trong hoạt động của NHTM: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro nguồn vốn, rủi ro do thừa vốn, rủi do do thiếu vốn, rủi ro hối đoái, rủi ro trong thanh toán, rủi ro thuần tuý, rủi ro mất khả năng thanh toán. Altunbas, Gambacorta và Marques ‐ Ibanez (2010) tìm thấy một môi trường lãi suất thấp đột ngột và xảy ra trong một thời kỳ dài sẽ làm rủi ro ngân hàng tăng lên.
Có lẽ, các ngân hàng có xu hướng giả định rằng rủi ro của ngân hàng lớn hơn chủ yếu thông qua hai kênh. Thứ nhất, họ có thể tạo thêm thu nhập từ các hoạt động khác, bằng cách tăng phí và thu nhập kinh doanh thông qua sự thay đổi trong mô Luận văn thạc sĩ Kinh tế hình, do Rajan xây dựng (2005). Ở Nhật Bản, ví dụ điển hình của một thời gian dài ‐ môi trường lãi suất siêu thấp kéo dài, các ngân hàng thực sự đã cố gắng thay đổi mô hình kinh doanh của họ và phát triển các nguồn thu nhập mới để duy trì khả năng sinh lời. Họ mở rộng ở các khu vực bên ngoài thị trường cốt lõi của họ, mở rộng phạm vi dịch vụ của họ, chiến lược đầu tư thay đổi và thành lập các ngành nghề kinh doanh mới (xem Weistroffer, 2013).
Roengpitya et al. (2014) mô tả ba ngân hàng có mô hình kinh doanh khác nhau và thấy rằng sau cuộc khủng hoảng tài chính nhiều ngân hàng đã điều chỉnh chiến lược của họ phù hợp với hiệu suất tương đối của mô hình kinh doanh. Tuy nhiên, họ cũng thấy rằng một sự thay đổi trong mô hình kinh doanh thường làm giảm lợi nhuận hơn là tăng cường nó, những ngân hàng đã có những rắc rối trong việc thay đổi chiến lược của họ. Sự tìm kiếm năng suất và tăng khả năng sinh lời có thể có rủi ro cũng được giải thích bằng phát hiện của Manganelli và Wolswijk (2009) rằng trong quá trình tăng trưởng kinh tế bị bóp méo, lãi suất thấp hơn có thể phản ánh ít rủi ro hơn.
Các sự tồn tại của kênh gây rủi 9 ro, đó là, tác động các thay đổi về tỷ lệ chính sách đối với nhận thức rủi ro hoặc rủi ro khoan dung, được xác định bởi Borio và Zhu (2008). Kênh nguy cơ thứ hai và chiếm ưu thế liên quan đến rủi ro tín dụng đó là môi trường lãi suất thấp có thể ảnh hưởng đến rủi ro trong danh mục cho vay. Thứ nhất, lãi suất thấp có thể làm giảm xác suất xác định về các khoản vay và do đó, giảm các khoản dự phòng về các khoản vay. Mặt khác, có thể dẫn đến tình trạng giảm các tiêu chí cho vay của ngân hàng và làm giảm chất lượng danh mục cho vay, trong trung hạn dẫn đến tổn thất tín dụng cao hơn.
Jiménez, Ongena, Peydró và Saurina (2014), Ongena và Peydró (2009), Bolivia, Maddaloni và Peydró (2011) thấy rằng, trong trường hợp của Châu Âu và Hoa Kỳ, làm mềm tiêu chuẩn cho vay đối với các công ty và hộ gia đình. Dell'Ariccia và Marquez (2006) thấy rằng lãi suất thấp làm giảm khả năng loại bỏ những vấn đề bất lợi và do đó có thể làm giảm sàng lọc ngân hàng, tăng khả năng cho vay nhiều rủi ro hơn. Delis và Kouretas (2011) bổ sung cho các tài liệu bằng cách xem xét các năm 2001-2008 và lưu ý rằng lãi suất thấp làm Luận văn thạc sĩ Kinh tế tăng rủi ro của khoản vay danh mục đầu tư. Một mối tương quan trong hai kênh trên có nguy cơ có thể được xem xét, như Delis và Kouretas (2011) được tìm thấy rằng các ngân hàng tham gia vào nhiều hoạt động phi truyền thống, có nghĩa là, tiếp xúc với rủi ro cao hơn, cũng có xu hướng tiếp tục với các rủi ro cao hơn trong các hoạt động truyền thống của họ.
Khái quát về các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời và chấp nhận rủi ro Các NHTM muốn giữ vững ổn định và phát triển lành mạnh cần nhờ vào điều kiện tiên quyết đó là hoạt động có kết quả tốt, do đó việc tăng cường khả năng sinh lời sẽ đóng góp tích cực việc mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao năng lực tài chính, tăng khả năng cạnh tranh, xây dựng danh hiệu.