phần mở đầu, mục lục, danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài đƣợc trình bày trong ba chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Nam Á. Chƣơng 3: Giải pháp kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Nam Á. e 7 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ thanh toán của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động kinh doanh thẻ của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm, cấu trúc và phân loại thẻ thanh toán Khái niệm Thẻ là một phƣơng tiện thanh toán không dung tiền mặt đƣợc phát hành bởi các ngân hàng, các định chế tài chính, hoặc các công ty và ngƣời sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc máy rút tiền tự động.
Theo quan điểm của ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam, khái niệm về thẻ đƣợc quy định tại quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 nhƣ sau: Thẻ ngân hàng là “phƣơng tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc các bên thỏa thuận.” Cấu trúc thẻ Thẻ đƣợc cấu tạo bằng nhựa cứng (plastic) theo chuẩn quốc tế: hình chữ nhật kích cỡ 96 mm x 54 mm, gồm 2 mặt. Mặt trƣớc thẻ gồm những thông tin sau: biểu tƣợng và tên tổ chức phát hành, thƣơng hiệu của tổ chức quốc tế (đối với thẻ quốc tế), chip điện tử (đối với thẻ thông minh), số thẻ, thời gian hiệu lực của thẻ, họ và tên chủ thẻ, ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã đợt phát hành. e 8 Mặt sau thẻ gồm có dải băng từ (lƣu trữ các thông tin nhƣ: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành, mã số PIN cá nhân) và dải băng chữ ký. Phân loại thẻ Thông tƣ số 19/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nƣớc khái niệm: Thẻ ngân hàng là phƣơng tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc các e 9 bên thỏa thuận.
Thẻ ghi nợ (debit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi số tiền và hạn mức thấu chi (nếu có) trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức phát hành thẻ. Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trước (prepaid card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi giá trị tiền đƣợc nạp vào thẻ tƣơng ứng với số tiền đã trả trƣớc cho tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trƣớc bao gồm: Thẻ trả trƣớc định danh (có các thông tin định danh chủ thẻ) và thẻ trả trƣớc vô danh (không có các thông tin định danh chủ thẻ).
Thẻ đồng thương hiệu là thẻ đồng thời có thƣơng hiệu của tổ hức phát hành thẻ và thƣơng hiệu của tổ chức liên kết, hợp tác phát hành thẻ. Thẻ vật lý là thẻ có hình thức hiện hữu vật chất, thông thƣờng đƣợc làm bằng chất liệu nhựa, có gắn dải từ hoặc chip điện tử để lƣu giữ dữ liệu thẻ. Thẻ phi vật lý là thẻ không hiện hữu bằng hình thức vật chất nhƣng vẫn chƣa các thông tin trên thẻ, đƣợc tổ chức phát hành thẻ phát hành cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động hoặc các thiết bị điện tử chấp nhận thẻ. Thẻ phi vật lý có thể đƣợc tổ chức phát hành thẻ in ra thẻ vật lý khi chủ thẻ có yêu cầu.
Xét theo công nghệ sản xuất, thẻ có ba loại: Thẻ khắc chữ nổi (embossed card): là loại thẻ sơ khai ban đầu, các thông tin cơ bản đƣợc khắc nổi trên thẻ, loại thẻ này nhanh chóng đƣợc thay thế vì tính bảo mật kém và dễ bị làm giả. Thẻ băng từ (magnetic stripe): thẻ đƣợc phủ một băng từ với hai hoặc ba dãy để ghi thông tin cần thiết đã đƣợc mã hóa, các thông tin này thƣờng là e 10 thông tin cố định về chủ thẻ và số liệu kết nối. Khi trình độ công nghệ phát triển cao, nó bộc lộ những yếu điểm do tính bảo mật không an toàn, dễ bị kẻ gian lợi dụng đọc thông tin và làm giả thẻ, hoặc tạo các giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng. Thẻ thông minh (smart card – thẻ chip): thẻ đƣợc sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý nhờ gắn một chip điện tử theo nguyên tắc xử lý nhƣ một máy tính nhỏ.
Đây là thế hệ tiến bộ nhất của thẻ thanh toán, nó khắc phục những hạn chế của thẻ từ, độ an toàn và tính bảo mật cao. Xét theo bản chất kinh tế của nguồn thanh toán, thẻ có ba loại: Thẻ tín dụng (credit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ đƣợc thực hiện giao dịch trọng hạn mức tín dụng đã đƣợc cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Chủ thẻ phải thanh toán nợ tối thiểu khi đến hạn quy định và sẽ phải trả lãi cho số tiền còn nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trƣớc. Thẻ tín dụng đƣợc xem nhƣ một công cụ cho vay tiêu dùng của tổ chức phát hành cấp cho chủ thẻ.
Thẻ ghi nợ (debit card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ đƣợc thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền trên tài khoản thanh toán của chủ thẻ mở tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc số dƣ hiện hữu trong tài khoản chủ thẻ. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong giao dịch, tổ chức phát hành có thể cho phép chi tiêu e 11 hoặc rút tiền vƣợt quá mức số dƣ trong một khoảng thời gian nhất định, tùy thuộc vào độ uy tín của khách hàng, hình thức này đƣợc gọi là thấu chi. Một số dạng của thẻ ghi nợ: Thẻ rút tiền mặt (ATM card): là hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ tiếp cần trực tiếp với tài khoản tại ngân hàng qua máy rút tiền tự động.
Chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch khác nhau tại ATM nhƣ vấn tin số dƣ, r t tiền, chuyển khoản, in sao kê, … Thẻ tính tiền (charge card): là một hình thức của thẻ ghi nợ nhƣng đƣợc phát hành giống nhƣ phƣơng thức của thẻ tín dụng, tức là hàng tháng chủ thẻ phải hoàn trả đầy đủ hóa đơn thanh toán. Thẻ này đƣợc nối mạng cùng hệ thống với thẻ tín dụng nhƣng lệ phí hàng năm lớn hơn thẻ tín dụng, đặc biệt là đối với các loại thẻ vàng (Gold charge card). Loại thẻ này thƣờng đƣợc gắn với một số ƣu đãi dành cho chủ thẻ. (Thẻ Napas, Thẻ Master, Thẻ Visa, …) Thẻ trả trƣớc (prepaid card): cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi giá trị tiền mặt đƣợc nạp vào thẻ, tƣơng ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trƣớc cho tổ chức phát hành thẻ.
Chủ thẻ trả trƣớc không nhất thiết phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng/tổ chức phát hành thẻ. Thẻ trả trƣớc gồm có thẻ đinh danh và vô danh. Ngoài ra, thẻ trả trƣớc có thể sử dụng dƣới hình thức thẻ quà tặng, thẻ chuyển tiền, thẻ thanh toán phúc lợi xã hội và thẻ thanh toán du lịch. Xét về phạm vi lãnh thổ, thẻ có hai loại: Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia và đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ.
Thông thƣờng đó là thẻ ghi nợ của các ngân hàng thƣơng mại, đƣợc phát hành, sử dụng tại hệ thống máy ATM và mạng lƣới các đơn vị chấp nhận thẻ trong nƣớc. Thẻ quốc tế: là loại thẻ có thể đƣợc sử dụng trên phạm vi trong nƣớc và quốc tế. Để phát hành thẻ quốc tế, tổ chức phát hành thẻ phải là thành viên e 12 của tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành. Đồng tiền sử dụng trong giao dịch thẻ: Trên lãnh thổ Việt Nam: Giao dịch r t tiền mặt bằng thẻ phải đƣợc thực hiện bằng đồng Việt Nam; Đối với các giao dịch thẻ khác: Đồng tiền giao dịch là đồng Việt Nam hoặc đồng ngoại tệ.
(Đối với những trƣờng hợp đƣợc cho phép sử dụng đồng ngoại tệ cần phải tuân thủ pháp lệnh quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nƣớc); Ngoài lãnh thổ Việt Nam: Khi thực hiện giao dịch thẻ ngoài lãnh thổ Việt Nam, chủ thẻ phải thực hiện thanh toán cho TCPHT bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá do các bên thỏa thuận phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc.2 Các chủ thể tham gia trong quá trình phát hành và thanh toán thẻ Các tổ chức phát hành và thanh toán thẻ thực hiện theo các quy định trong hợp đồng ký kết giữa ngân hàng thƣơng mại trong nƣớc với các Tổ chức Thẻ quốc tế, các Tổ chức Thẻ quốc tế và Luật pháp quốc gia. Tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT – Card Association) Là tổ chức cấp phép thành viên cho các ngân hàng phát hành (NHPH) và các ngân hàng thanh toán thẻ (NHTT). TCTQT có nhiệm vụ chính là cung cấp mạng lƣới viễn thông toàn cầu phục vụ cho quy trình thanh toán thẻ, đƣa ra các điều lệ, quy chế hoạt động thanh toán thẻ và là trung gian giải quyết các tranh chấp khiếu nại giữa các thành viên. Một số biểu tượng của các tổ chức thẻ quốc tế e 13 Chủ thẻ (Cardholer) Chủ thẻ có thể là cá nhân hoặc là ngƣời đƣợc công ty ủy quyền, chỉ có chủ thẻ mới có quyền sử dụng thẻ đứng tên mình để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hay rút tiền mặt trong giới hạn quy định.
Chủ thẻ có thể gồm: + Chủ thẻ chính: ngƣời đứng tên đề nghị ngân hàng cấp thẻ và hoàn toàn chịu trách nhiệm xử lý, thanh toán các vấn đề có liên quan sử dụng thẻ của mình, kể cả thẻ phụ phát hành theo thẻ chính. + Chủ thẻ phụ: là ngƣời đƣợc cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính.