Chương 1: Lý luận cơ bản về phân tích tài chính tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Công Thương CN Hà Giang Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Công Thương CN Hà Giang 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hệ thống báo cáo tài chính của các ngân hàng thƣơng mại 1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát về tổng giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của NHTM tại một thời điểm nhất định (thời điểm lập báo cáo.
Trong đ , tài sản có thể hiện những gì mà ngân hàng đang sử dụng, mà chủ yếu là những khoản tín dụng và đầu tư c n tài sản nợ là những tài sản mà ngân hàng đang phải thanh toán mà chủ yếu là những khoản tiền gửi của khách hàng và vốn chủ sở hữu [3], [14]. Nội dung của Bảng cân đối kế toán thể hiện qua hệ thống các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản. Bảng cân đối kế toán có vai trò hết sức quan trọng nó v a phản ánh khái quát v a phản ảnh chi tiết tình trạng tài sản và nguồn vốn của ngân hàng và đồng thời cũng là căn cứ đáng tin cậy để các nhà đầu tư, khách hàng xem xét khi muốn hợp tác với ngân hàng. Bảng cân đối kế toán có những đ c điểm chủ yếu: Các chỉ tiêu được biểu hiện dưới hình thái giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới các hình thái (vật chất và tiền tệ, vô hình lẫn hữu hình.
Báo cáo tài chính được chia thành 2 phần theo hai cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành nên tài sản. Do vậy, số tổng cộng của 2 phần luôn bằng nhau. Báo cáo tài chính phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định. Thời điểm đ thường là ngày cuối cùng của k hạch toán.
Ngoài bộ phận theo dõi trong Bảng cân đối kế toán, NHTM còn có một bộ phận tài sản được theo dõi ngoại bảng, đ là những tài sản không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng thương mại như: Các tài sản giữ hộ, quản lý hộ khách hàng, các giao dịch chưa được th a nhận là tài sản ho c nguồn vốn dưới dạng các cam kết bảo lãnh, cam kết mua bán hối đoái c k hạn… [3], [14]. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, phản ánh thu nhập hoạt động chính và các hoạt động khác qua một k kinh doanh (một k kế toán thường là một năm của ngân hàng thương mại. Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKD được chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động tài chính, hoạt động bất thường. Báo cáo này trình bày doanh thu tạo ra trong k hoạt động, chi phí phát sinh trong chu k và thu nhập ròng hay lợi nhuận của ngân hàng, bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Theo quy định ở Việt nam, báo cáo kết quả kinh doanh còn có thêm phần kê khai tình hình thực hiện ngh a vụ của doanh nghiệp đối với Ngân sách nhà nước (NSNN) và tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng [3], [14]. Báo cáo kết quả kinh doanh thể hiện các kết quả của hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định. Không giống như bảng cân đối kế toán là bảng tóm tắt vị trí của doanh nghiệp tại một thời điểm, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả tích lũy của hoạt động kinh doanh trong một thời gian xác định. Nó cho biết liệu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp c đem lại lợi nhuận hay không - ngh a là liệu thu nhập thuần (lợi nhuận thực tế dương hay âm.
Đ là lý do tại sao báo cáo kết quả kinh doanh thường được xem là báo cáo lỗ lãi. Ngoài ra, nó còn phản ánh lợi nhuận của ngân hàng ở cuối một thời gian cụ thể, thường là cuối tháng, cuối quý ho c cuối năm tài chính [3], [14]. BCKQKD được thể hiện bằng một biểu thức đơn giản như sau: Doanh thu - Chi phí = thu nhập thuần (ho c Lỗ thuần) Đây là khoản thu nhập còn lại sau khi đã thực hiện ngh a vụ với NSNN. Báo cáo thu nhập tập trung vào chỉ tiêu lợi nhuận, tuy nhiên một trong các hạn chế của nó là thu nhập sẽ lệ thuộc rất nhiều vào quan điểm của kế toán trong quá trình hạch toán chi phí.
Một hạn chế khác nữa là do nguyên tắc kế toán về ghi nhận doanh thu quy định, theo đ doanh thu sẽ được ghi nhận khi giao dịch đã hoàn thành trong khi đ việc thanh toán lại có thể xảy ra ở thời điểm khác. Nhược điểm này dẫn đến sự cần thiết của báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong k báo cáo. BCLCTT được lập trên cơ sở cân đối thu chi tiền m t, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong k báo cáo.
BCLCTT giải thích sự khác nhau giữa lợi nhuận của ngân hàng thương mại và các dòng tiền có liên quan, cung cấp những thông tin về những dòng tiền gắn liền với những biến động về tài sản, công nợ và vốn chủ sở hữu. Thông qua BCLCTT NHTM có thể đánh giá khả năng tạo ra các dòng tiền t các loại hoạt động của ngân hàng để đáp ứng kịp thời các khoản nợ cho các chủ nợ, cổ tức cho các cổ đông ho c nộp thuế cho nhà nước. Trên cơ sở BCLCTT, nhà quản trị ngân hàng có thể dự đoán các d ng tiền phát sinh trong hoạt động kinh doanh để có các biện pháp quản lý trong tương lai [3], [14]. Lượng tiền phát sinh trong k bao gồm vốn bằng tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn được xem là tương đương tiền.
Tiền tồn Tiền thu Tiền chi Tiền tồn + = + đầu k trong k trong k cuối k BCLCTT có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên quan để đánh giá khả năng kinh doanh tạo ra tiền của ngân hàng, chỉ ra được mối liên quan giữa lợi nhuận ròng và dòng tiền ròng, phân tích khả năng thanh toán của ngân hàng và dự đoán được kế hoạch thu chi tiền cho k tiếp theo. - Hoạt động kinh doanh: Là các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của ngân hàng và các hoạt động khác không phải là các hoạt động đầu tư hay hoạt động tài chính. Phần này phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại như tiền thu lãi cho vay, thu t các khoản phải thu khác… Các chi phí bằng tiền như chi lãi tiền gửi cho khách hàng, tiền thanh toán cho công nhân về tiền lương và Bảo thiểm xã hội,… Các chi phí khác bằng tiền chi phí văn ph ng phẩm, công tác phí… - Hoạt động đầu tư: Là các hoạt động mua sắm, xây dựng, thanh lý, nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền. Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến 10 hoạt động đầu tư của NHTM.
Hoạt động đầu tư bao gồm hai phần: Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân ngân hàng thương mại như hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định. Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức liên doanh, đầu tư chứng khoán không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn. - Hoạt động tài chính: Là các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu vốn của ngân hàng. Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của NHTM như g p vốn liên doanh, vay vốn trong dân chúng và các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB…, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu hay trái phiếu, trả nợ vay… Báo cáo lưu chuyển tiền tệ không những giúp cho các nhà phân tích giải thích được nguyên nhân thay đổi về tình hình tài sản, nguồn vốn, khả năng thanh toán của NHTM mà còn là công cụ quan trọng để hoạch định ngân sách - kế hoạch tiền m t trong tương lai.
Thuyết minh báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính: Là bộ phận hợp thành của hệ thống báo cáo tài chính của ngân hàng. Là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng số liệu một số chi tiêu kinh tế - tài chính chưa được thể hiện trên các báo cáo tài chính khác. Thuyết minh báo cáo tài chính được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong k báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết. Qua đ , nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp [3], [14].
Nội dung của thuyết minh báo cáo tài chính: Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đ c điểm hoạt động của tổ chức tín dụng bao gồm: Giấy phép thành lập và hoạt động, hình thức sở hữu vốn, thành phần Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, vốn điều lệ, địa điểm, mạng lưới hoạt động, cơ sở lập báo cáo tài chính, nội dung một số chế độ kế toán được ngân hàng lựa chọn áp dụng… Và các báo cáo chi tiết về tình hình hoạt động của tổ chức tín dụng như: Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản; báo cáo tình hình tăng, giảm nguồn vốn và sử dụng vốn; Báo cáo tình hình tăng giảm thu nhập, lợi nhuận, dòng tiền trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.