Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của tài sản có tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Chương 3: Thực trạng thanh khoản, tỷ suất sinh lời cuả các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2007-2014. Chương 4: Mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chương 5: Một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro thanh khoản và nâng cao tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Ý nghĩa, và ứng dụng của đề tài nghiên cứu Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn.Về mặt khoa học, nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam. Do đó, luận văn mở hướng cho những nghiên cứu sau này, chuyên sâu, khắc phục những nhược điểm mà nghiên cứu này chưa làm được. 4 Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra những kết luận hiện trạng về thanh khoản và tác động của thanh khoản đến tỷ suất sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua nghiên cứu 30 ngân hàng tiêu biểu.
Từ đó giúp cơ quan quản lý có những chính sách điều hành phù hợp.Đồng thời, giúp các nhà quản trị ngân hàng thấy được tầm quan trọng của việc nắm giữ các tài sản thanh khoản đối với lợi nhuận của ngân hàng, để đưa ra những chính sách thích hợp tối đa hóa lợi nhuận. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 2. Cơ sở lý luận về thanh khoản và tỷ suất sinh lời ngân hàng: 2. Thanh khoản ngân hàng: 2.
Khái niệm thanh khoản ngân hàng: Với một ngân hàng, tính thanh khoản được xét trên ba góc độ tính thanh khoản của tài sản, tính thanh khoản của nguồn và tính thanh khoản của ngân hàng, trong đó tính thanh khoản của ngân hàng được tạo lập với tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn. Tính thanh khoản của tài sản: Tài sản được xem là có tính thanh khoản phải có các đặc điểm sau: -Phổ biến trên thị trường nên có thể chuyển hoá ra tiền một cách nhanh chóng. -Giá cả ổn định để không ảnh hưởng đến tốc độ và doanh thu bán tài sản. -Người bán có thể mua lại dễ dàng với giá không cao hơn nhiều so với giá cả đã bán ra để khôi phục khoản đầu tư ban đầu.
Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, trái phiếu kho bạc, các khoản vay ngân hàng trung ương, trái phiếu đô thị, chứng khoán của các cơ quan chính phủ, chấp phiếu của ngân hàng khác. Tính thanh khoản của nguồn Tính thanh khoản của nguồn là khả năng huy động, mở rộng nguồn vốn của ngân hàng, được đo bằng thời gian và chi phí mở rộng nguồn khi cần thiết. Thời gian và chi phí càng thấp thì tính thanh khoản của nguồn càng cao và ngược lại. Ví dụ, một ngân hàng có khả năng huy động vốn với khoảng thời gian và mức lãi suất hợp lý thì với ngân hàng đó tính thanh khoản của nguồn là cao.
6 Tính thanh khoản của ngân hàng Tính thanh khoản trong ngân hàng được hiểu đơn giản có nghĩa là khả năng của ngân hàng có thể đáp ứng được các yêu cầu rút tiền bất cứ khi nào của người gửi hoặc là khả năng cung ứng được tất cả các khoản vay tín dụng hay vay tiền mặt cho người đi vay. Như vậy, một ngân hàng đươc coi là thanh khoản tốt nếu có khả năng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu thanh toán chi trả phát sinh với một chi phí hợp lý đúng vào thời điểm khách hàng hoặc đối tác có nhu cầu. Tính thanh khoản của một ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản mà ngân hàng đó nắm giữ và tính thanh khoản của nguồn, tức là tài sản hiện có (dự trữ) và nguồn vốn có thể huy động mới. Một ngân hàng có tính thanh khoản khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn vốn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai đều trên.
Tính thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, theo nghĩa, một số yêu cầu thanh khoản là tức thời hoặc gần như tức thời. Chẳng hạn, một khoản tiền gửi lớn đến hạn và khách hàng không có ý định tiếp tục duy trì số vốn này tại ngân hàng; khi đó, ngân hàng buộc phải tìm kiếm các nguồn vốn có thể sử dụng ngay như vay từ ngân hàng khác. Ngoài ra, yếu tố thời vụ, chu kỳ cũng rất đáng quan trọng trong việc dự kiến cầu thanh khoản dài hạn. Ví dụ, cầu về thanh khoản thường rất lớn vào mùa hè, cuối hè gắn với ngày tựu trường, ngày nghỉ và các kế hoạch du lịch của khách hàng.
Việc kế hoạch được những yêu cầu thanh khoản này, sẽ giúp ngân hàng hoạch định được nhiều nguồn đáp ứng cầu thanh khoản dài hạn hơn là trong trường hợp đối với cầu thanh khoản ngắn hạn. Cung và cầu thanh khoản: Cung về thanh khoản: +Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: - Các khoản tiền gửi sẽ nhận được - Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ - Các khoản tín dụng sẽ thu về 7 - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng - Vay mượn từ thị trường tiền tệ + Nhân tố tác động đến nguồn cung thanh khoản: - Quy định và chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước. - Các điều kiện kinh tế vĩ mô. - Sự phát triển và tính dễ dàng tiếp cận của thị trường tiền tệ.
-Hoạt động của các thị trường khác như thị trường chứng khoán phái sinh. Cầu về thanh khoản + Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản: - Khách hàng rút các khoản tiền gửi - Đề nghị vay vốn của khách hàng - Thanh toán các khoản phải trả khác - Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng - Thanh toán cổ tức cho cổ đông + Nhân tố tác động đến cầu thanh khoản: - Các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát. - Lãi suất huy động và lãi suất cho vay. - Sự khác biệt đáng kể về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác.
Các phương pháp đo lường trạng thái thanh khoản của ngân hàng: Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn: Cách đo lường này bắt đầu với thực tế là: khả năng thanh khoản tăng khi tiền gửi tăng và cho vay giảm; và khả năng thanh khoản giảm khi tiền gửi giảm và cho vay tăng. Bất cứ khi nào nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, ngân hàng phải đối mặt với khe hở tài trợ (financing gap). Khe hở này được 8 đo bằng độ chênh lệch giữa tổng nguồn vốn huy động trung bình và tổng dư nợ trung bình. Khe hở tài trợ = Tổng dư nợ trung bình - Tổng nguồn vốn huy động trung bình.
Nếu khe hở này là dương thì ngân hàng buộc phải bù đắp bằng các khoản tiền mặt và các tài sản có tính thanh khoản hoặc vay nợ trên thị trường tiền tệ. Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn: Với phương pháp này, bước đầu tiên là tiền gửi và các nguồn vốn khác nhau của ngân hàng được chia thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút ra khỏi ngân hàng, ví dụ như: - Nhóm vốn “nóng”. - Nhóm vốn kém ổn định. - Nhóm vốn ổn định.
Tiếp theo, nhà quản lý thanh khoản phải dành riêng một phần vốn thanh khoản đối với mỗi nhóm vốn nêu trên (dự trữ thanh khoản) được xác định theo công thức: Dự trữ thanh khoản vốn = Σ tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) Sau đó nhà quản trị ngân hàng dự tính con số vốn vay tối đa tiềm năng và cần có lượng dự trữ thanh khoản hay năng lực vay vốn hợp lý, tương đương với 100% phần chênh lệch giữa tổng dư nợ thực tế và tổng cho vay tối đa tiềm năng. Do đó: Tổng yêu cầu thanh khoản của ngân hàng = Σ Tỷ lệ dự trữ thanh khoản xác định của nhóm x (nhóm vốn tiền gửi và phi tiền gửi – dự trữ bắt buộc) + 100 x (quy mô cho vay tối đa tiềm năng – tổng dư nợ hiện tại). Phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản: Nhu cầu thanh khoản được ước tính dựa trên chỉ số thanh khoản và các chỉ báo khác của trạng thái thanh khoản, cụ thể như sau: - Chỉ số thanh khoản: đo lường tổn thất mà một ngân hàng gánh chịu khi phải bán tháo (bán ngay lập tức) tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản so với mức giá 9 của tài sản đó trên thị trường (ở điều kiện bình thường). Công thức đo lường chỉ số thanh khoản được xác định như sau: I = Σ[wi×(Pi/P*i)] Trong đó: wi: tỷ trọng của tài sản thứ i trong danh mục tài sản Pi: Giá bán tháo tài sản của tài sản thứ i P*i: Giá thị trường của tài sản thứ i Các chỉ báo trạng thái thanh khoản khác: - Chỉ số dự trữ thanh toán/tổng tài sản Có - Tổng dư nợ/tổng tiền gửi - Tỷ lệ khả năng chi trả - Tiền đi vay/ tổng tài sản - Chỉ tiêu cơ cấu tiền gửi - Chỉ tiêu chứng khoán thanh khoản - Cam kết tín dụng/tổng tài sản - Chỉ số nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn - Chỉ tiêu tiền gửi thường xuyên 2.
Vai trò của thanh khoản: Có hai nguyên nhân giải thích tại sao thanh khoản lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng. Thứ nhất, cần phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu cho vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn. Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự. Do ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn (với lãi suất thấp) và cho vay số tiền đó với thời hạn dài hạn (lãi suất cao hơn) nên ngân hàng về cơ bản luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn.