Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Tuyên Quang Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Tuyên Quang. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại “Hoạt động kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình nhằm mục tiêu sinh lời” (trích từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam trang 108). Hoặc có thể nói, hoạt động kinh doanh là những hành vi liên quan đến hoạt động sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc các dịch vụ nhằm mục tiêu sinh lời. Như vậy, hoạt động kinh doanh được hiểu là: những cách thức mà chủ thể thực hiện có chủ đích nhằm mục tiêu sinh lời. Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán, các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.
Vì là một loại hình doanh nghiệp, để đạt được mục tiêu của mình, NHTM phải tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời. Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu, hoạt động ngân hàng là hoạt động nhận tiền gửi hoặc các quỹ có thể hoàn trả được từ công chúng, cho vay và cung ứng các dịch vụ tài chính khác. Tại Việt Nam, theo luật các TCTD năm 2010, “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi; cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, hoạt động ngân hàng bao gồm các hoạt động liên quan đến huy động vốn, cho vay và cung ứng các dịch vụ khác cho nền kinh tế.
Từ các khái niệm về hoạt động kinh doanh và ngân hàng thương mại, có thể nói hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là những hoạt động có chủ đích được ngân hàng thương mại cung ứng ra thị trường nhằm đáp ứng các nhu cầu dịch vụ tài chính của khách hàng nhằm mục đích sinh lời. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại - Đối tượng và phương tiện kinh doanh chính của ngân hàng là tiền tệ: Đối với hoạt động huy động vốn, NHTM huy động vốn từ các nguồn tiền nhàn rỗi, sử dụng nguồn tiền huy động được để cho vay đối với những khách hàng đang có nhu cầu vay vốn, thông qua đó tạo được thu nhập và lợi nhuận từ mức chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay. - Đối tượng khách hàng của ngân hàng đa dạng và phong phú: Hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính xã hội hóa cao, liên quan mật thiết tới m i lĩnh vực, m i vùng miền và m i thành phần trong nền kinh tế. Đặc tính này đ i h i các NHTM phải đa dạng hóa sản ph m dịch vụ để đáp ứng tối đa nhu cầu của m i tầng lớp, chủ thể, lĩnh vực trong nền kinh tế.
Thêm vào đó, đối tượng khách hàng của ngân hàng thuộc nhiều trình độ khác nhau nên đội ngũ nhân viên ngân hàng phải làm tốt công tác tư vấn, hướng dẫn khách hàng trong quá trình thực hiện giao dịch. Làm tốt điều này, ngân hàng mới có thể “giữ chân khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, gia tăng thị phần. Từ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho NHTM. - Các rủi ro luôn đồng hành trong các hoạt động ngân hàng: Các loại rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động ngân hàng như: rủi ro tín dụng, rủi ro đạo đức nghề nghiệp, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro môi trường chính trị - xã hội, , rủi ro hối đoái… Điểm khác biệt của rủi ro trong ngân hàng so với các doanh nghiệp ngoài ngành ngân hàng là rủi ro ngân hàng mang tính hệ thống, gây hậu quả nặng nề không chỉ đối với một ngân hàng mà có thể lan truyền nhanh ra toàn ngành ngân hàng và nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế hiện nay nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh doanh mới, do đó hoạt động ngân hàng là hoạt động chấp nhận và quản lý rủi ro. Các ngân hàng thương mại xác định kh u vị rủi ro của mình và đồng thời định hướng, xây dựng riêng cho mình các công cụ, hệ thống phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi ro khi có rủi ro xảy ra. Bộ máy phòng ngừa, xử lý rủi ro của hệ thống ngân hàng nào tốt hơn, hiệu quả hơn thì sẽ gi p nâng cao được hiệu quả hoạt động của mình. 11 - Hoạt động ngân hàng có các yếu tố ảnh hưởng mang tính dây chuyền và chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ từ bộ máy Nhà nước: Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính của nền kinh tế.
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại có liên hệ và liên kết vững chắc tới tất cả các cá nhân, các tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội thông qua các hoạt động huy động vốn, tín dụng và cung ứng dịch vụ ngân hàng. Do vậy, một số yếu tố, thông tin tiêu cực có thể gây ảnh hưởng toàn diện đến toàn bộ hệ thống một ngân hàng thương mại. Thêm vào đó, các ngân hàng thương mại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cùng ngành d c nên việc một hệ thống ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh và có nguy cơ sụp đổ sẽ tác động tiêu cực tới các hệ thống ngân hàng thương mại khác. Vì vậy, để đảm bảo an toàn tài chính cho nền kinh tế, ngân hàng trung ương các nước đều có bộ phận giám sát thường xuyên và liên tục đối với các ngân hàng thương mại và có hệ thống cảnh báo sớm nhằm cảnh báo để phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra.
- Hoạt động của NHTM chịu sự chi phối của các yếu tố trong nước và quốc tế: Điều này là do hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động luân chuyển tiền, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn liên quan tới nhiều quốc gia để phục vụ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ chịu sự giám sát, chi phối của môi trường pháp luật, đặc điểm kinh doanh của các nước và các thông lệ của quốc tế. - Yếu tố tâm lý của khách hàng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động của NHTM: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh dựa trên niềm tin của khách hàng. Nói một cách đơn giản thì NHTM sẽ sử dụng nguồn vốn đi vay từ người có tiền gửi tiền để thực hiện cho vay với người thiếu tiền. Do vậy, nếu người gửi tiền mất niềm tin vào ngân hàng, ồ ạt đến rút tiền hoặc không đến gửi tiền thì bất cứ NHTM nào cũng đứng trước bờ vực phá sản.
Do vậy, một trong những tiêu chí hàng đầu của mỗi NHTM chính là tạo được uy tín, niềm tin đối với khách hàng. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ tạo lập nên nguồn vốn hoạt động của NHTM, là nghiệp vụ cơ ản vì nó tạo nên nguồn vốn để NHTM đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động kinh doanh, điều kiện tiên quyết với tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ như ngân hàng thương mại là phải có nguồn vốn.
Nói cách khác, nguồn vốn là tiền đề để doanh nghiệp tổ chức, thiết kế m i hoạt động kinh doanh sinh lời. NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, tỷ tr ng vốn chủ sở hữu thấp, thường chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng nguồn vốn hoạt động; trong khi vốn huy động và vốn đi vay là chủ yếu, thường chiếm đến 90%. Do vậy, huy động vốn là cơ sở để NHTM có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để huy động vốn từ các nguồn lực trong nền kinh tế, các NHTM thường sử dụng các nghiệp vụ sau: - Nhận tiền gửi: Đây là hình thức huy động vốn từ các nguồn lực trong nền kinh tế thông qua các sản ph m tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi khác của khách hàng.
Nghiệp vụ nhận tiền gửi thực chất là vốn thuộc chủ sở hữu của khách hàng và được chuyển giao cho NHTM quản lý, sử dụng trong một thời gian nhất định nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Đây là nguồn vốn rất quan tr ng và là nghiệp vụ huy động vốn chủ yếu của các NHTM. Quy mô và hiệu quả của nghiệp vụ này sẽ quyết định trực tiếp đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Nghiệp huy động vốn của NHTM thực hiện tốt sẽ là tiền đề để ngân hàng mở rộng cho vay, phát triển các hoạt động kinh doanh, đầu tư.
Mặt khác, nguồn vốn huy động được càng rẻ thì hiệu quả kinh doanh càng cao, càng giảm được rủi ro trong cho vay do có ưu thế trong việc ch n l c khách hàng, NHTM có thể huy động vốn không kì hạn hoặc có kì hạn đối với các tổ chức và dân cư. + Tiền gửi giao dịch: là loại tiền gửi với mục đích chủ yếu để thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Đây là các khoản huy động tiền gửi không kỳ hạn của NHTM, là loại tiền gửi mà người sở hữu có thể rút ra bất cứ lúc nào, bao gồm tiền gửi thanh toán của các tổ chức, tiền gửi tiết kiệm không kì hạn của dân cư. Loại này tuy biến 13 động thường xuyên nhưng nó vẫn có được một số dư ổn định so với tiền gửi vào rút ra trong một thời kỳ nên ngân hàng sử dụng cho vay ngắn hạn.
Tiền gửi giao dịch vì vậy có lãi suất huy động thấp.