Chương 1. Giới thiệu Chương này, luận văn sẽ trình bày nội dung tổng quát về đề tài, chẳng hạn như lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu của nghiên cứu, các câu hỏi, đối tượng nghiên cứu và phạm vi, phương pháp, các đóng góp của nghiên cứu và bố cục của đề tài. Đây được xem là chương mục làm tiền đề để hiểu sâu hơn về các chương phía sau. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Trong chương 2, luận văn nêu rõ về cơ sở lý thuyết cũng như các lý thuyết nền, cách đo lường liên quan đến thu nhập ngoài lãi và hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Ngoài ra trong chương 2 sẽ khảo lược một số bài nghiên cứu trước đó để làm cơ sở, tiền đề nhằm đề xuất mô hình phù hợp nghiên cứu trong chương 3. Phương pháp nghiên cứu Dựa vào cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu đã trình bày tại chương 2, chương 3 trình bày phương pháp và quy trình nghiên cứu thực hiện. Bên cạnh đó, chương 3 cũng thực hiện đề xuất mô hình phù hợp thực hiện, mô tả các biến có cũng như dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu. Phân tích kết quả nghiên cứu.
Dựa trên phương pháp, mô hình và dữ liệu nghiên cứu đã thu thập, chương 4 tiến hành thực hiện các hồi quy và lựa chọn mô hình thực nghiệm phù hợp nhằm phân tích ảnh hưởng của nguồn thu ngoài lãi đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam. Kết luận 7 Dựa trên kết quả thực hiện đã trình bày trong chương 4, chương 5 của khóa luận thực hiện kết luận và đề xuất hàm ý các chính sách liên quan để gia tăng hiệu quả trong kinh doanh của NHTM. Đồng thời chương 5 trình bày các hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại Liên quan đến khái niệm NHTM, hiện nay có một số khái niệm phổ biến như sau. Theo Rose (1998), ngân hàng là một định chế tài chính trung gian cung cấp tài chính đa dạng nhất về một số danh mục dịch vụ bao gồm dịch vụ thanh toán, tiết kiệm và tín dụng. So với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế thì đây là tổ chức kinh tế thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất.
Còn mỗi quốc gia, có những cách hiểu riêng về ngành ngân hàng. Tại Pháp, theo đạo luật ngân hàng của cộng hòa Pháp năm 1941, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà tại đó thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc các hình thức khác, sau đó sẽ sử dụng nguồn nhân lực này nhằm đáp ứng cho các nghiệp vụ tín dụng, chiết khấu, thanh toán. Tại Việt Nam, theo điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì cho rằng “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Vì vậy, thông qua một số khái niệm trên, trong nghiên cứu này có thể hiểu NHTM là một tổ chức kinh doanh đặc biệt, chuyên kinh doanh về các lĩnh vực liên quan tới tiền tệ, với nghiệp vụ chính chủ yếu về tín dụng, tiết kiệm và thanh toán.
Trong đó, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là một trong những mục tiêu chính mà nhà quản trị NHTM hướng đến khi thực hiện lĩnh vực kinh doanh này. Chức năng của ngân hàng thương mại Khi mới ra đời, NHTM là tổ chức đóng vai trò chủ yếu là trung gian luân chuyển vốn giữa các chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế. Hiện nay cùng với sự phát triển NHTM đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tối đa cho khách hàng. Do vậy, hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện nay rất đa dạng và nhiều tiện ích.
9 Theo Rose (1998), hiện nay các NHTM đang dần mở rộng hoạt động, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng số để đáp ứng nhu cầu tối đa cho khách hàng dưới áp lực cạnh tranh ngày một gay gắt với các định chế khác. Do vậy, các NHTM đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu doanh thu từ các dịch vụ truyền thống (là dịch vụ tín dụng) sang các dịch vụ phi truyền thống như thanh toán, môi giới, tư vấn tài chính, ủy thác, quản lý tiền mặt, ngân hàng số, dịch vụ bảo hiểm. Do vậy, NHTM cũng dần đáp ứng đa nhiệm từ tín dụng, đến quản lý tiền mặt, ngân hàng đầu tư, bảo lãnh, ủy thác, lập kế hoạch đầu tư, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm, môi giới, thanh toán,… 2. Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở chức năng của NHTM, hiện nay các NHTM trong nước và nước ngoài tại Việt Nam cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính, nhưng tựu chung lại vẫn bao gồm hai hoạt động cơ bản là tín dụng và phi tín dụng. Các hoạt động tín dụng Tín dụng của ngành ngân hàng được kể đến là các hoạt động như bảo lãnh, cho vay, bao thanh toán, chiết khấu, cho thuê tài chính,… Trong quá khứ đây là các hoạt động mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thông qua thu nhập lãi. Cụ thể, nghiệp vụ tín dụng bao gồm các nghiệp vụ sau đây. Một là, cho vay.
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo cho bên cho vay giao hoặc cam kết cho vay khách một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích nhất định trong một thời xác định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả và gốc và lãi vay” (47. Theo đó, hoạt động cho vay có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như theo phân khúc khách hàng (gồm cho vay khách hàng cá nhân, cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn, cho vay khách doanh nghiệp S&E,…) hay phân loại theo thời gian (trung hạn và dài hạn, cho vay ngắn hạn,…). Hai là, bảo lãnh. “Hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã 10 cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận” (47.
Ba là, “chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán”(47. Cụ thể là nghiệp vụ mà các NHTM thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá cho doanh nghiệp và có thể tái chiết khấu các thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác của các NHTM khác. Đây là nghiệp vụ giúp doanh nghiệp phục hồi, đặc biệt là khả năng thanh toán trong ngắn hạn cũng như thúc đẩy tốc độ chu chuyển vốn của doanh nghiệp. Do vậy, nghiệp vụ chiết khấu được khách hàng và NHTM đều khá ưa chuộng khi nghiệp vụ này được đảm bảo bởi giấy tờ có giá nên rủi ro tín dụng tương đối thấp.
Bốn là, bao thanh toán: Đây là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ được hai bên mua và bán thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế. Với nghiệp vụ này, việc thực hiện bao thanh toán của các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp có nhu cầu bán các khoản nợ nhằm thu về tiền mặt để phục vụ quá trình kinh doanh và quay vòng vốn. Đồng thời, họ sẽ tiến hành thẩm định năng lực đối với khách hàng mua về tài chính, khi các bên liên quan và ngân hàng đồng ý ký kết hợp đồng này, ngân hàng sẽ mua lại các khoản nợ với giá chiết khấu thích hợp, đây là mức phí mà bên bán phải chịu để đổi lại quyền thu tiền mặt về sớm. Năm là, cho thuê tài chính.
Ngoài các hoạt động tín dụng đã trình bày, NHTM còn thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh trong đó bên chủ sở hữu tài sản (bên cho thuê) chuyển giao tài sản cho bên đi thuê được phép sử dụng trong một thời gian nhất định và bên đi thuê sẽ trả tiền thuê cho bên sở hữu tài chính. Theo quy định của Luật hiện tại, NHTM không được phép trực tiếp thực hiện nghiệp vụ này mà phải thông qua bên thứ ba. Về bàn chất, đây cũng là hoạt động tài trợ vốn theo hình thức ngân hàng tiến hành mua tài sản và chuyển giao quyền sử dụng cho bên đi thuê. 11 Với các hoạt động tín dụng này, về bản chất đây là các hoạt động mà NHTM được phép thu lãi.
Trong quá khứ đây là các nguồn thu chính của các ngân hàng, tuy vậy, theo thời gian cùng với sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài hay giữa các định chế tài chính khác và ngân hàng. Đồng thời hoạt động liên quan đến tín dụng thường chứa đựng nhiều rủi ro (về tín dụng, rủi ro thị trường, lãi suất) (Bùi Diệu Anh, 2016). Do vậy, các NHTM có nhu cầu chuyển dịch sang thực hiện thêm một loại các hoạt động phi lãi (hay phi tín dụng khác) để đa dạng nguồn thu nhập và gia tăng thị phần khách hàng. Các hoạt động phi tín dụng Hoạt động tiền gửi: Nghiệp vụ mà NHTM tiến hành nhận tiền gửi cho khách hàng bao gồm cá nhân và tổ chức dưới các hình thức như tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn,… Các hoạt động thanh toán: Ngân hàng cung ứng đến khách hàng những dịch vụ về thanh toán; thực hiện nghiệp vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thu tín dụng,… Dịch vụ ngân hàng điện tử và ngân hàng số.
Trong bối cảnh công nghệ được quan tâm và ngày càng phát triển, để đáp ứng tốt nhất các trải nghiệm về dịch vụ của khách hàng, các NHTM tích cực trong việc cho ra đời các sản phẩm công nghệ như Internet banking, Digital banking, Mobile banking, CallCenter,… Hoạt động đầu tư: Các NHTM vừa làm đa dạng loại hình vốn sử dụng vừa mang lại thu nhập, đồng thời còn là khoản dự trữ với các chứng khoán ngắn hạn chất lượng cao. Đầu tư vào gồm các hoạt động chính: + Mua các chứng khoán, trái phiếu Chính phủ: Các chứng khoán Chinh phủ được NHTM xem như không có rủi ro.