mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, có nghĩa là khách hàng không cần phải đến ngân hàng rút tiền ra để mang đi chi trả cho đối tác mà khách hàng chỉ cần đến ngân hàng viết giấy thông báo trong ngân hàng là sẽ thanh toán số tiền cho đối tác này hoặc khách hàng có thể viết giấy cho đối tác của họ để họ mang giấy tới ngân hàng nhận tiền. Các tiện ích của không dùng diện mặt đã và đang là xu thế và xu hướng của các quốc gia đang phát triển. Đặc biệt khi ngân hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng càng được mở rộng, càng tạo được nhiều tiện ích hơn, điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin mà hiện nay có rất nhiều hình thức thanh toán tiện ích và thích hợp với mọi đối tượng khách hàng tiêu biểu như: Thanh toán trả ngay (séc, thư tín dụng, uỷ nhiệm chi, ủy nhiệm thu), thanh toán trả chậm (hối phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, trái phiếu).
* Hoạt động khác: 7 - Mua bán ngoại tệ: là hoạt động ngân hàng mua ngoại tệ này bằng ngoại tệ khác nhằm ăn chênh lệch giá. - Bảo quản tài sản hộ: là việc các ngân hàng thực hiện lưu trữ và bảo vệ các vật có giá trị như vàng, giấy tờ có giá, các tài sản khác,. của khách hàng trong két để đảm bảo an toàn, bí mật, thuận tiện cho khách hàng. Trong đó, khách hàng phải trả các khoản phí cho ngân hàng bảo đảm bảo cho dịch vụ.
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng dùng uy tín của mình để đảm bảo cho khách hàng thực hiện được nhu cầu của mình như bảo lãnh mua chịu hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn,. và khách hàng được bảo lãnh phải trả cho ngân hàng một khoản phí gọi là phí bảo lãnh. Trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng phát triển và được chú trọng hơn. Phí bảo lãnh khá lớn và nhu cầu bảo lãnh ngày càng tăng lên nên đây là một nguồn thu lớn cho ngân hàng.
- Ủy thác và tư vấn: Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính nên các ngân hàng có rất nhiều những chuyên gia về quản lí tài chính, do đó phát sinh nhiều doanh nghiệp muốn nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác còn phát triển sang cả ủy thác vay hộ,ủy thác cho vay, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư,. - Bảo hiểm: dịch vụ bảo hiểm chính là việc đảm bảo hoàn trả trong trường hợp khách hàng xảy ra rủi ro mất khả năng thanh toán. Ngân hàng liên doanh, liên kết với các công ty bảo hiểm để đảm bảo thực hiện nghiệp vụ này một cách chuyên nghiệp.
Vốn huy động và công tác huy động vốn trong hoạt dộng kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Nguồn vốn và nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại Vốn là lượng tiền được dùng để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận sau một khoảng thời gian nhất định. Đối với hàng hóa thông thường được lưu thông trên thị trường, người sở hữu hàng hóa bán quyền sở hữu hàng hóa của mình, còn vốn thì được lưu thông, mua bán trên thị trường vốn và người sở hữu 8 vốn không bán quyền sở hữu mà bán quyền sử dụng vốn.
Sau một thời gian nhất định, người mua quyền sử dụng vốn phải trả cho người sử dụng sở hữu vốn một khoản tiền nhất định. Đối với ngân hàng, vốn là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tự tạo lập hoặc từ đi vay, từ huy động. được dùng vào hoạt động cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn tự có Vốn chủ sở hữu được hình thành bằng nhiều cách khác nhau, để phân biệt với các khoản tiền của chủ thể khác mà ngân hàng đang nắm giữ (các khoản nợ).
Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng, góp phần xác định quy mô và cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư. Các bộ phận cấu thành vốn chủ sở hữu: - Nguồn vốn từ hình thành ban đầu: Tùy theo tính chất của mỗi ngân hành mà nguồn góc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Một NHTM muốn bắt đầu hoạt động thì ngân hàng đó phải đáp ứng được yêu cầu của NHNN về mức vốn pháp định. Đối với các NHTM quốc doanh thì vốn pháp định ban đầu là vốn do Nhà nước cấp.
Đối với các NHTM cổ phần thì vốn pháp định hình thành do sự đóng góp của các cổ đông dưới hình thức phát hành cổ phiểu. Đối với các NHTM liên doanh thì vốn pháp định là vốn đóng góp của các bên liên doanh. Còn vốn của ngân hàng tư nhân lại chính là vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng. - Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Gia tăng vốn chủ sở hữu là một hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu càng lớn thì uy tín cũng như sức mạnh của ngân hàng trên thị trường càng lớn. Để tăng vốn chủ sở hữu, các ngân hàng thường lấy từ các nguồn sau: + Nguồn từ lợi nhuận: Khi hoạt động có lợi nhuận ngân hàng thường có xu hướng gia tăng vốn chủ sở hữu bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư. + Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,. để mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng hoặc đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ do NHNN quy định.
9 + Các quỹ: Các quỹ của ngân hàng được lập ra với nhiều mục đích, nhằm hỗ trợ cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng. Quỹ dự phòng tổn thất được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhăm bù đắp những tổn thất đã và sẽ xảy ra. Quỹ bảo toàn vốn nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát. Quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới.
Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc… 1. Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi Nguồn tiền gửi của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua nghiệp vụ tiền gửi, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh. Bản chất của nguồn vốn này là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn).
Tiền gửi đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM. Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả của đối tượng gửi tiền đều được ngân hàng thực hiện.
Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có sự ăn khớp giữa các khoản phải thu và phải trả của khách hàng, nên trong những lúc khoản tiền này nhàn rỗi nó trở thành nguồn tiền gửi không kỳ hạn của NHTM. Tiền gửi không kỳ hạn có đặc điểm quy mô lớn, song biến động phức tạp, thời gian sử dụng ngắn phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời vụ và ngân hàng phải chủ động trả cho khách hàng bất cứ lúc nào. Lãi suất của khoản tiền này rất thấp hoặc bằng không, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp. Đây là nguồn huy động rẻ đối với ngân hàng.
Mặt khác, vì là tiền gửi thanh toán nên nó luôn luôn là đối tượng của dự trữ bắt buộc và là nguồn biến động mạnh nên nhu cầu thanh khoản của tiền gửi không kỳ hạn rất cao. Ngân hàng có thể huy động tiền gửi không 10 kỳ hạn từ các doanh nghiệp, cá nhân bằng cách mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho khách hàng. Thủ tục mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng rất đơn giản. Yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư.
Ngoài ra ngân hàng còn có các nguồn tiền gửi từ các tổ chức tín dụng khác nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các TCTD có thể gửi tiền tại ngân hàng tuy nhiên quy mô của nguồn này thường không lớn. Các ngân hàng có thể sử dụng loại tiền gửi thanh toán để cho vay, tuy nhiên việc cho vay phải có mức độ, phải có dự trữ, nhằm đáp ứng kịp thời, chính xác yêu cầu của khách hàng. - Tiền gửi có kỳ hạn: Trong quá trinh hoạt động kinh doanh, với việc xác định được thời gian cho các khoản phải thu phải trả các doanh nghiệp, cá nhân sẽ hình thành một khoản tiền nhàn rỗi trong một khoảng thời gian xác định và các khoản tiền đó sẽ được gửi có kỳ hạn vào ngân hàng nhằm mục đích an toàn và gia tăng thu nhập. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn.
Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Họ chỉ được rút tiền vào thời điểm đáo hạn hoặc yêu cầu ngân hàng cho rút trước hạn. Tiền gửi tiết kiệm là một hình thức huy động của tiền gửi có kỳ hạn. Xét về bản chất, đây là một phần thu nhập của một tầng lớp dân cư chưa sử dụng cho tiểu dùng.
Chi phí của việc huy động tiền gửi tiết kiệm bao giờ cũng cao hơn chi phí của các phương thức huy động vốn khác chính vì vậy huy động nguồn vốn này sẽ có chi phí huy động lớn. Muốn huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm ngân hàng phải chú ý mạng lưới huy động, cung cấp các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh.