CHƯƠNG 1 Vấn đề nghiên cứu về RRTD và các nhân tố tác động đến RRTD trong hoạt động ngân hàng nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía công chúng, các nhà quản trị ngân hàng và cả các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu nêu trên, học viên quyết định thực hiện luận văn hướng đến đề tài “Các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Để thực hiện nghiên cứu, học viên thu thập dữ liệu từ 27 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006-2017. Dựa trên nghiên cứu gốc của (Chaibi & Ftiti, 2015; Dimitrios et al., 2016) và có một số bổ sung phù hợp với thực tế tại Việt Nam, học viên xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG 2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Dưới góc nhìn của các nhà quản trị ngân hàng, các cổ đông và các cơ quan giám sát hoạt động động ngân hàng, RRTD là rủi ro hiện hữu, thường trực nhất và cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến phá sản ngân hàng. Một số quan điểm khá đồng nhất về RRTD dưới góc nhìn này như sau: Thứ nhất, Peter S.
Rose (2004) cho rằng khi một số tài sản của ngân hàng (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị hay không thể thu hồi là biểu hiện của RRTD. Bởi vì điểm đặc biệt trong hoạt động của ngân hàng là tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng giá trị tài sản là rất thấp, nên một tỷ lệ nhỏ trong danh mục cho vay của ngân hàng có vấn đề có thể sẽ đẩy ngân hàng tới nguy cơ phá sản. Thứ hai, theo Ủy ban Basel, RRTD là khả năng mà một người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ đã cam kết theo thỏa thuận trước đó với ngân hàng, có thể là không thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ đã cam kết. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các khoản cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục tài sản và cũng là khoản mục tạo ra lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng, do đó RRTD cũng là rủi ro lớn nhất đối với các ngân hàng (Ủy ban Basel, 1999).
Thứ ba, theo World Bank, RRTD là rủi ro vỡ nợ khi một bên đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ đã cam kết và rủi ro về thiệt hại là rủi ro mà kết quả của việc đối tác không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì người cho vay phải chịu thiệt hại. Thứ tư, theo Financial Soundness indicators Guide (IMF) thì RRTD được xem là khi một bên tham gia hợp đồng tài chính không thể hoàn thành nghĩa vụ và do đó gây tổn thất tài chính cho bên kia. Do vai trò của ngân hàng là nơi huy động tiền gửi như là một trung gian tài chính, việc giám sát RRTD trong hoạt động của ngân hàng thông qua nợ xấu trở thành vấn đề tâm điểm trong các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại. 8 Tại Việt Nam, một số văn bản pháp quy hiện hành do NHNN ban hành cũng trình bày khái niệm về RRTD khá đồng nhất với quan điểm trên.
Cụ thể, tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN RRTD nêu rõ RRTD trong hoạt động ngân hàng là “tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Thông tư 02/2013/TT-NHNN). Như vậy, có thể thấy các văn bản pháp quy hiện hành tại Việt Nam đã có sự tương đồng với khái niệm RRTD được nhắc đến bởi các tổ chức tài chính quốc tế uy tín. Theo các định nghĩa trên, có thể rút ra được các nội dung cơ bản về RRTD như sau: RRTD là những biến cố không mong đợi có thể xảy ra, có tính xác suất như rủi ro cao hoặc thấp và có khả năng xảy ra hoặc không xảy ra, dẫn đến giảm thu nhập của ngân hàng thương mại. Nghiêm trọng hơn, RRTD có thể gây tổn thất về tài sản của ngân hàng khi các yếu tố chủ quan hoặc khách quan trên ảnh hưởng đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của người vay một cách đầy đủ và đúng hạn.
Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Một số chỉ tiêu đo lường RRTD trong hoạt động ngân hàng được nhiều nghiên cứu sử dụng như sau: Thứ nhất, chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Trong đó, các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho biết chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng thông qua các khoản nợ quá hạn, cũng đồng nghĩa với RRTD tiềm ẩn đối với các khoản nợ quá hạn. Công thức tính như sau: Số dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = × 100% Tổng dư nợ cho vay Thứ hai, chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng của các khoản cho vay của ngân hàng thông qua các khoản nợ xấu, là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được hiểu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Công thức tính tỷ lệ nợ xáu trên tổng dư nợ tổng quát như sau: 9 Số dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = × 100% Tổng dư nợ cho vay Khi chất lượng các khoản cho vay của ngân hàng càng thấp thì khả năng mất vốn của ngân hàng càng cao, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Cũng tức là chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng tăng lên thì RRTD của ngân hàng cũng càng gia tăng, có thể đẩy ngân hàng đến bên bờ vực phá sản.
Thứ ba, chỉ tiêu tỷ lệ dự phòng RRTD trên tổng dư nợ. Dự phòng rủi ro được hiểu là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Do đó, tỷ lệ dự phòng RRTD trên tổng dư nợ càng cao phản ánh RRTD của ngân hàng cũng đang ở mức cao và ngân hàng có nguy cơ mất vốn (Hasan & Wall, 2004). Công thức tính như sau: Dự phòng RRTD được trích lập Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD = × 100% Tổng dư nợ tín dụng Trong các chỉ tiêu trên, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến hơn cả.
Bởi vì chỉ tiêu này phản ánh cụ thể nhất chất lượng tài sản hay chất lượng tín dụng của ngân hàng, đồng thời cũng cho thấy khả năng quản trị rủi ro tín dụng trong khâu cấp tín dụng và thu hồi nợ vay của ngân hàng. Tuy nhiên, việc sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho các nghiên cứu tại Việt Nam cũng tồn tại những hạn chế nhất định và gây nhiều tranh cãi. Tranh cãi lớn nhất xoay quanh thực trạng con số báo cáo về nợ xấu của ngân hàng chưa sát so với con số nợ xấu thực tế. Do đó, đo lường RRTD thông qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có thể chưa phản ánh hết nguy cơ RRTD tiềm ẩn trong hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Theo báo cáo đặc biệt về hệ thống ngân hàng Việt Nam của Fitch Rating năm 2010, thì con số thực tế về tình hình nợ xấu tại Việt Nam có thể cao gấp 2 đến 3 lần con số do NHNN công bố. Theo tài liệu của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia năm 2017, nợ xấu thực tế gấp gần 4 lần so với con số nợ xấu 2,34% do ngân hàng 10 Nhà nước (NHNN) báo cáo. Còn theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng có những động cơ để làm đẹp báo cáo tài chính dẫn đến bóp méo con số nợ xấu so với thực tế rất nhiều. Tuy nhiên, ngoài các số liệu nợ xấu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, thì không có số liệu nào khác đảm bảo tính xác thực hơn.
Do đó, trong khuôn khổ nghiên cứu này, học viên sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ để đo lường RRTD theo như nghiên cứu gốc của (Chaibi & Ftiti, 2015) và một số nghiên cứu liên quan của (Dimitrios et al., 2016; Louzis, Vouldis, & Metaxas, 2012; Saurina & Jimenez, 2006; Zribi & Boujelbène, 2011). Bảng sau đây trình bày tóm tắt về phân loại nợ và trích lập dự phòng theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN. Phân loại nợ và trích lập dự phòng theo Thông tư 02/2013/TT- NHNN Dự Dự Nhóm Định lượng Định tính phòng phòng nợ cụ thể chung Các khoản nợ được tổ Nợ trong hạn và nợ quá Nhóm 1: chức tín dụng, chi nhánh hạn dưới 10 ngày được Nợ đủ ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng 0% tiêu đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và chuẩn thu hồi đầy đủ cả nợ gốc lãi đúng thời hạn và lãi đúng hạn. Nợ quá hạn từ 10 ngày Nợ quá hạn từ 10 ngày 0,75% Nhóm 2: đến 90 ngày; Nợ điều đến 90 ngày; Nợ điều Nợ cần 5% chỉnh kỳ hạn trả nợ lần chỉnh kỳ hạn trả nợ lần chú ý đầu.
Nhóm 3: Nợ quá hạn từ 91 ngày Các khoản nợ được tổ Nợ dưới đến 180 ngày; Nợ gia hạn chức tín dụng, chi nhánh 20% tiêu nợ lần đầu; Nợ được miễn ngân hàng nước ngoài 11 chuẩn hoặc giảm lãi do khách đánh giá là không có khả hàng không đủ khả năng năng thu hồi nợ gốc và lãi trả lãi đầy đủ theo hợp khi đến hạn và được đánh đồng tín dụng. giá là có khả năng tổn thất. Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ cơ cấu Các khoản nợ được tổ lại thời hạn trả nợ lần đầu Nhóm 4: chức tín dụng, chi nhánh quá hạn dưới 90 ngày theo Nợ Nghi ngân hàng nước ngoài 50% thời hạn trả nợ được cơ ngờ đánh giá là có khả năng cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu tổn thất cao. lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.