Chương 1 trình bày nội dung sơ bộ về các vấn đề của bài nghiên cứu. Ngoài ra còn giúp cho người đọc có cái nhìn bao quát về những nội dung của bài nghiên cứu như: lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi, phương pháp nghiên cứu cả bài khóa luận. Bên cạnh đó, trong chương này tác giả cũng cho biết những ý nghĩa về cả khoa học và thực tiễn của đề tài, và trình bày bố cục tổng quát của bài khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
RỦI RO TÍN DỤNG 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong bộ Nguyên tắc quản trị Rủi ro tín dụng của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng ban hành tại thời điểm tháng 9/2000 có đề cập “RRTD được định nghĩa một cách đơn giản nhất là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Fitch (1997) nhận định rằng “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng”.
Bessis (2011) cho rằng “RRTD là rủi ro phát sinh tổn thất do suy giảm uy tín tín dụng của các đối tác. RRTD là rủi ro lâu đời nhất và quan trọng nhất đối với các ngân hàng”. Theo khoản 1 điều 3 thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất đổi với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận (gọi chung là thoa thuận) với tổ chức tin dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Nguyễn Văn Tiến (2012) cho rằng “RRTD phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đủ được đầy đủ gốc là lãi khoản vay, hoặc việc thanh toán nợ gốc lãi không đúng kỳ hạn.
Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ RRTD nào. Trong trường hợp người vay tiền phá sản thì việc thu hồi gốc lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp RRTD”. Từ những định nghĩa trên, RRTD được hiểu là những rủi ro tiềm ẩn nảy sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, xuất phát từ khách hàng vay không thực 9 hiện đúng nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như trong hợp đồng tín dụng đã cam kết. RRTD đóng vai trò cực kỳ quan trọng, khiến ngân hàng phải đối mặt với sự mất cân đối trong việc quản lý thu chi.
Không chỉ làm mất cân đối tài chính do không thu hồi được nợ, ngân hàng còn phải trả vốn lẫn lãi cho nguồn tiền được gửi tại ngân hàng. Điều này có thể dẫn đến vòng quay vốn tín dụng bị giảm và nguy cơ mất thanh khoản, ảnh hưởng ngược chiều với chất lượng tín dụng và uy tín của NHTM. Trong tương lai, nếu RRTD không được kiểm soát, từ đó lan rộng và gây hậu quả xấu cho nền kinh tế. Phân loại rủi ro tín dụng RRTD được chia thành 2 loại bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
(i) Rủi ro giao dịch: Là các trở ngại xuất hiện trong quá trình giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, đặc biệt là trong việc xét duyệt yêu cầu vay của khách hàng. RRGD gồm 3 loại rủi ro chính: Rủi ro lựa chọn: Là các thách thức liên quan tới việc thẩm định năng lực tài chính của khách hàng và khả năng phân tích tín dụng, trong đó ngân hàng đóng vị trí khá quan trọng trong việc phân tích, đánh giá và lựa chọn phương án cho vay. Rủi ro đảm bảo: Là những nguy cơ phát sinh từ các tiêu chuẩn được thiết lập để bảo đảm như điều khoản hợp đồng giao kết, đối tượng khách hàng và cách thức thực hiện đảm bảo và cấp độ cho vay. Rủi ro nghiệp vụ: Là các vấn đề của lĩnh vực nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, khả năng giám sát hiệu quả trong tác nghiệp của cán bộ nhân viên đóng vai trò quan trọng.
(ii) Rủi ro danh mục: Là các vấn đề phát sinh khi ngân hàng không thể kiểm soát danh mục cho vay một cách cẩn thận và khoa học. RRDM được phân thành 2 loại chủ yếu: Rủi ro nội tại: Có nguồn gốc từ bên trong của cá nhân, tổ chức đi vay và chủ thể trong nền kinh tế tổng thể. 10 Rủi ro tập trung: Là tình trạng dư nợ của các khách hàng được dồn lại thành một nhóm hoặc cụm đối tượng, một lĩnh vực kinh tế hoặc một phân khúc sản phẩm hoặc một địa điểm. Nguyên nhân rủi ro tín dụng 2.
Nguyên nhân bên trong Thứ nhất, thường phát sinh do sự kém hiệu quả trong các quy trình thẩm định tín dụng trước, trong và sau khi cho vay, dẫn đến việc chọn lựa không chính xác đối với khách hàng có chất lượng (Berger & DeYoung, 1997). Ta thấy RRTD phát sinh từ chính nội bộ của ngân hàng, bao gồm chính sách tín dụng không rõ ràng, việc cấp tín dụng quá mức, quản lý hoạt động cho vay không hiệu quả,. Ngoài ra, RRTD còn có thể phát sinh khi đội ngũ cán bộ của ngân hàng thiếu trách nhiệm, trình độ chuyên môn thấp, không có đạo đức nghề nghiệp, tham nhũng, làm giả hồ sơ cho vay dẫn đến hồ sơ tín dụng và những khoản vay kém chất lượng ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Bên cạnh đó, yếu tố gây nên RRTD cũng xuất phát từ việc ngân hàng thẩm định sai về tình trạng tín dụng bao gồm các giá trị tài sản đảm bảo hoặc giá trị tài sản thế chấp có biến động tiêu cực.
Berger và Deyoung (1997) đã cho rằng việc ngân hàng không tập trung vào quá trình thẩm định và giám sát các khoản vay có thể giúp tăng hiệu quả sử dụng chi phí hoạt động trong ngắn hạn nhưng hậu quả của điều này là nợ xấu của ngân hàng sẽ gia tăng đáng kể trong tương lai. Thứ hai, Berger & DeYoung (1997) cho rằng các NHTM thường đặt ra chiến lược doanh thu cao dẫn đến gia tăng các khoản cho vay, ngân hàng thường dành ít nguồn lực trong quá trình thẩm định và giám sát khoản vay nhằm tăng hiệu quả chi phí hoạt động trong ngắn hạn, điều này sẽ làm tăng RRTD trong tương lai. các NHTM không chấp hành các quy tắc bảo đảm an toàn vốn, từ đó sẽ tạo ra RRTD (Das & Ghosh, 2007). Nguyên nhân bên ngoài Ngoài những yếu tố đến từ nội bộ ngân hàng thì RRTD còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân khách quan như sau: 11 Thứ nhất, do tình hình kinh tế và pháp lý.
Sự biến động trong chính trị hoặc chiến lược của Chính phủ để thích hợp với diến biến kinh tế của VN có thể ảnh hưởng đến các NHTM. Chính sách đầu tư tích cực để thu hút đầu tư sẽ mang lại cơ hội và ngân hàng sẽ chọn được khách hàng tốt. Ngoài ra theo Wang (2013) có rằng nếu môi trường pháp luật thiếu đồng bộ, tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật như tham ô, chiếm đoạt tài sản,. dẫn đến sự mất cân bằng trong kinh doanh, tạo ra trở ngại trong hoạt động cho vay của ngân hàng dẫn đến tác động không tốt đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Thứ hai, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Môi trường thiên nhiên là yếu tố không thể dự đoán trước, nó thường xuất hiện đột ngột và gây ra nhiều thiệt hại nặng nề đến hoạt động sản xuất, đặc biệt là ngành nông nghiệp của nước nhà. Ngoài ra, khi xảy ra thiên tai, dịch bệnh khách hàng có thể rơi vào tình huống khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, vì vậy nó đồng nghĩa với việc ngân hàng cho vay cũng phải chia sẻ rủi ro này cùng với khách hàng. Bên cạnh đó, nguyên nhân dẫn đến RRTD cũng có thể đến từ chiến tranh hay sự biến động trong các mối quan hệ quốc tế, vì những tác động của nền kinh tế của thế giới sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến biến động kinh tế của một nước và hoạt động lưu thông tiền tệ cũng phải chịu dối diện với RRTD nhều hơn các ngành hoạt động kinh tế khác.
Thứ ba, do biến động kinh tế và tiềm lực tài chính của khách hàng. Lợi nhuận kinh doanh của các doanh nghiệp bị tác động bởi xu hướng thị giá của những hàng hóa và nguồn cung cấp vật liệu cho sản xuất tác động trực tiếp tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp, qua đó còn tác động đến HĐTD của ngân hàng, hoặc khó khăn từ hoạt động xuất nhập khẩu cũng là một trong những lý do dẫn đến khó khăn trong HĐTD của ngân hàng. Theo Wang (2013) cho rằng việc khách hàng không thanh toán được khoản vay cho ngân hàng đến từ khách hàng kinh doanh thất bại, từ đó tác động đến RRTD của ngân hàng. Tác động của rủi ro tín dụng 2.
Đối với ngân hàng Thứ nhất, RRTD làm mức độ tin tưởng của khách hàng với ngân hàng, uy tín và sự tín nhiệm vào khả năng tài chính của ngân hàng sẽ giảm một cách nghiêm trọng khi tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng tăng cao. Với tốc độ lan truyền thông tin nhanh chóng hiện nay, hình ảnh và chất lượng của ngân hàng dễ bị suy giảm trong mắt khách hàng. Ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hút nguồn vốn vì không có khách hàng nào có nhu cầu giao dịch tại NHTM với chất lượng tín dụng kém và không đáng tin cậy, từ đó dẫn đến không đủ nguồn vốn cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bị thua lỗ liên tục, khả năng thanh khoản bị ảnh hưởng sẽ có nguy cơ dẫn đến cuộc khủng hoảng rút tiền hàng loạt của khách hàng. Khi các khoản cho vay của ngân hàng gặp vấn đề rủi ro sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và uy tín của ngân hàng trên thị trường sẽ bị mất đi.
Từ đó dẫn đến ngân hàng phải đổi mặt với nguy cơ bị sụp đổ (Nabila & Younes, 2011). RRTD tạo ra những tổn thất không xác định về giá trị và ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng. Thứ hai, RRTD gây tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.