phần mở đầu, tác giả đã tổng kết chung về đề tài nghiên cứu, bao gồm việc nhấn mạnh tính cấp thiết của đề tài, trình bày tình hình nghiên cứu hiện tại, xác định rõ mục tiêu và đặt ra những câu hỏi cụ thể. Ngoài ra cũng đã xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận, đóng góp và xây dựng bố cục của nghiên cứu này. Các định hướng trên sẽ cung cấp nền tảng cho việc trình bày chi tiết hơn trong các chương tiếp theo của luận văn. Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm Theo Lê Thị Tuyết Hoa và cộng sự (2017) cho rằng: “Tín dụng là hình thức cho vay mà qua đó tổ chức tín dụng cung cấp cho khách hàng một khoản tiền được dành riêng cho mục đích đã giao kết trước đó với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Các loại quan hệ tín dụng mang đặc điểm đa dạng, phụ thuộc vào các yếu tố tham gia như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng và tín dụng từ Nhà nước. Trong các hoạt động kinh tế, tín dụng của ngân hàng được xem như một công cụ vô cùng quan trọng để cung cấp vốn và đáp ứng nhu cầu tài chính của các cá nhân và tổ chức. Tín dụng được coi là một công cụ chuyển nhượng giá trị, chuyển giao tiền hoặc tài sản có giá trị từ người sở hữu sang người cần sử dụng, dựa trên kỳ vọng về việc trả lại một khoản giá trị lớn hơn ban đầu.
Do đó, hệ thống tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi vốn giữa các ngân hàng và các chủ thể trong nền kinh tế. Các ngân hàng đóng vai trò vừa là người cho vay (cấp tín dụng bằng việc lập hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ,…) và vừa là người đi vay (trung gian nhận tiền gửi ngân hàng, v.v từ các chủ thể khác và phát hành các chứng chỉ tiền gửi như trái phiếu, kỳ phiếu, v. Phân loại Có nhiều tiêu chuẩn để phân loại tín dụng ngân hàng thương mại, theo Trần Minh Quân (2014), tín dụng ngân hàng thương mại được phân loại như sau: ❖ Dựa vào tính chất khoản tín dụng: Cho vay bất động sản: cho vay liên quan đến việc mua sắm và hình thành bất động sản. Cho vay phục vụ sản xuất công thương nghiệp: cho vay bổ sung vốn lưu động kịp thời cho các doanh nghiệp công nghiệp, thương mại – dịch vụ.
Cho vay nông nghiệp: cho vay dùng để trang trải các chi phí để đáp ứng nhu cầu sản xuất: phân bón, giống cây trồng, thức ăn gia súc, v. Vay tiêu dùng: là khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân,… 8 Các khoản cho vay khác: cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu,… ❖ Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn tối đa 01 năm, được sử dùng để đáp ứng kịp thời nhu cầu bổ sung vốn lưu động và các khoản chi tiêu cá nhân ngắn hạn của doanh nghiệp. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ trên 01 năm đến 05 năm, dùng để đáp ứng nhu cầu vốn cải tạo nhà xưởng, mở rộng kinh doanh sản xuất. Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 05 năm, thường được sử dụng để đầu tư cho các dự án mới phát triển mới, cần vốn lớn.
❖ Căn cứ vào phương thức cấp tín dụng: Theo phương thức cấp tín dụng, việc cấp tín dụng bao gồm: Cho vay: ngân hàng cấp vốn cho khách hàng và cam kết khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong một thời hạn xác định. Chiết khấu: ngân hàng sẽ ứng trước cho khách hàng một số tiền bằng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng từ việc sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn thanh toán. Cho thuê tài chính: ngân hàng mua bất động sản và cho khách hàng thuê với những điều khoản nhất định, sau khi hết hợp đồng thuê, khách hàng phải trả lại tiền gốc và lãi cho ngân hàng. Hình thức cho thuê tài chính là cấp tín dụng trung dài hạn.
Bảo lãnh: Ngân hàng đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng. Đối với hình thức bảo lãnh: Có 2 loại bảo lãnh: Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng được bên thứ ba đảm bảo hoặc tự hình thành bằng tài sản đảm bảo của khách hàng. Tín dụng được cấp không dựa trên tài sản: đây là từ các hình thức tín dụng có đảm bảo từ các hình thức tín chấp, các khoản vay theo quyết định của Chính phủ hoặc được bảo lãnh từ các tổ chức khác. Chức năng, vai trò Hoạt động tín dụng ngân hàng được thiết lập nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, đồng thời đóng vai trò kết nối giữa các luồng luân chuyển vốn trong nền kinh tế, điều tiết dòng vốn đi từ nơi thừa sang nơi cần.
Các NHTM chủ yếu chuyển đổi tiền gửi từ các hộ gia đình thành các khoản vay cho các tổ chức kinh doanh khác. Các NHTM được coi là tổ chức cung cấp tín dụng tiêu dùng chính, đồng thời là tổ chức cung ứng lao động và vốn trong trung và dài hạn (Nguyễn Việt Hùng, 2008). Tạo nguồn vốn để hỗ trợ quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục và ổn định, thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng sản xuất, mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất và khai thác các cơ hội đầu tư mới. Sự ra đời và phát triển của ngành ngân hàng luôn đi đôi với sự tiến bộ của kinh tế thị trường và cải thiện trong đời sống xã hội.
Hơn nữa, cùng với sự tiến triển của nền kinh tế, chất lượng cuộc sống của người lao động ngày càng được cải thiện, và sự tăng lên trong các hoạt động liên quan đến việc gửi tiền vào ngân hàng đã củng cố tiềm lực tài chính và thúc đẩy tăng trưởng của hệ thống NHTM. Hiện nay, các ngân hàng thương mại vẫn đảm nhận các chức năng quan trọng như trung gian tín dụng, trung gian giao dịch thanh toán và quản lý phương thức thanh toán trong việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng, giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh tế vĩ mô là tạo ra tiền. Theo Nguyễn Minh Kiều (2014), hoạt động ngân hàng thương mại phải bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau: Vay tín chấp: Là hình thức cho vay được đảm bảo bằng tài sản thế chấp của khách hàng. Ứng trước tín dụng vào tài khoản: ngân hàng sẽ đồng ý cho khách hàng sử dụng một khoản tín dụng nhất định trong một khoảng thời gian nhất định.
Điều này được thực hiện theo hai cách: bằng cách chuyển tất cả các khoản vay sang tài khoản séc; hoặc bằng cách khách hàng loại bỏ dần các khoản vay bằng cách viết séc, v. Nghiệp vụ tín dụng cho thuê: Là hình thức nghiệp vụ ngân hàng mua lại tài sản và cho họ sử dụng. Bên thuê sử dụng tài sản phải trả tiền thuê trong suốt thời gian 10 thuê. Khi hết thời hạn thuê, bên thuê có thể gia hạn hợp đồng thuê hoặc mua lại tài sản với giá thỏa thuận với ngân hàng.
Tín dụng đầu tư: Đây là khoản vay trung và dài hạn, ngân hàng sẽ cấp vốn cho các doanh nghiệp, dự án mới, mở rộng quy mô sản xuất. Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: cho vay tiêu dùng cá nhân. Kinh doanh đầu tư: Theo quy định, các ngân hàng thương mại chỉ được sử dụng vốn tự có để kinh doanh đầu tư như đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanh. Tổng quan liên quan rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm Trong Khoản 1, Điều 3 thông tư số 11/2021/TT-NHNN, rủi ro tín dụng (RRTD) trong hoạt động ngân hàng được định nghĩa là khả năng xảy ra tổn thất đối với các khoản nợ của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ một phần hay toàn bộ các khoản nợ theo như hợp đồng hoặc thỏa thuận đã ký kết với tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo BCBS (2010), rủi ro tín dụng được định nghĩa là rủi ro tổn thất do người đi vay không có khả năng trả nợ toàn bộ hoặc một phần. Theo Ahmad Badawi (2017), rủi ro tín dụng là sự thất bại của con nợ và / hoặc các bên khác trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân hàng. RRTD thường được tìm thấy trong tất cả các hoạt động của ngân hàng mà hiệu suất của nó phụ thuộc vào hoạt động của đối tác, tổ chức phát hành hoặc hoạt động của người đi vay.
Fitch (1997) đưa ra định nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà người đi vay không trả được nợ theo hợp đồng, dẫn đến việc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cũng như lãi vay. Rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng là rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng, một trong những rủi ro chính. Theo khái niệm của Basel I (1988), RRTD là rủi ro do sự không chắc chắn về khả năng hoặc sự sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng của đối tác. Theo Norden và Weber (2010), rủi ro tín dụng l.ng người đi vay đáp ứng hoặc không đáp ứng được nghĩa vụ trả nợ của mình, do đó gây tổn thất cho các 11 tổ chức tài chính.
Đây là khả năng khách hàng không trả được nợ gốc và lãi nên tổ chức tín dụng cần làm rõ nguyên nhân càng sớm càng tốt. Rủi to tín dụng trong ngân hàng là rủi ro phát sinh khi bên nhận tín dụng từ ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình như không trả được nợ hoặc không trả lãi, điều này gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể bắt nguồn từ nhiều hoạt động kinh doanh của ngân hàng như chấp nhận thanh toán, giao dịch liên ngân hàng, cho vay, giao dịch tài trợ thương mại, cam kết và dự phòng, trái phiếu và tỷ giá hối đoái và các giao dịch phát sinh (Hassan et al, 2019). Rủi ro nói chung có thể được giải thích là một sự kiện bất lợi hoặc sự sai lệch so với kết quả mong đợi theo quan điểm của Muchtar & Samosir (2020).
Như vậy RRTD có thể hiểu là sự chậm trả, chỉ trả một phần hoặc không trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi vay) của khách hàng vay đối với ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. RRTD là một trong những loại rủi ro cổ điển và phức tạp nhất trong thị trường tài chính.