Chương 1, tác giả đã nêu rõ sự cần thiết để nghiên cứu tác động của RRTD đến KNSL tại các NHTM cổ phần Việt Nam. Từ mục tiêu chung, tác giả đưa ra hai mục tiêu cụ thể để nghiên cứu đề tài, và được định hướng thông qua hai câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra tác giả đã trình bày cụ thể đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm Về khái niệm rủi ro tín dụng, hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau. Fitch (1997) cho rằng: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng” Theo Ủy ban giám sát Basel (BCBS), “RRTD là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận.
RRTD còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng” Theo Saunders và Lange (1999) thì “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về số lượng và thời hạn”. Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN khoản 1, điều 3 giải thích, “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Từ những khái niệm khác nhau đã nêu, tác giả cho rằng: RRTD là những tổn thất tiềm tàng trong tương lai khi ngân hàng cấp tín dụng cho 10 khách hàng, và khách hàng không trả nợ đúng hạn hoặc không thể trả nợ cho ngân hàng. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD trong hoạt động NHTM, bao gồm khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân khách quan do các yếu tố bên ngoài tác động như: chính trị, kinh tế, pháp lý và khách hàng. Nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ bên trong NHTM như: quy trình cấp tín dụng thiếu an toàn, chưa khoa học, nhân viên phụ trách chưa chuyên nghiệp, đạo đức nghề nghiệp chưa tốt. Nguyên nhân khách quan RRTD xuất phát từ rủi ro hệ thống, dưới góc độ vĩ mô như các thay đổi về hệ thống pháp luật, chính sách vĩ mô về tiền tệ, tài khóa. Funda (2014) nhận định các yếu tố vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, tốc độ tăng trưởng GDP có ảnh hưởng tới RRTD các NHTM.
Wang (2013) cho rằng sự thiếu đồng bộ trong chính sách pháp luật, yếu kém trong hoạt động kinh doanh là nguyên nhân dẫn đến vỡ nợ của các khách hàng vay, điều này dẫn tới RRTD ngân hàng. Song song đó là các hành vi đạo đức của khách hàng vay như lừa đảo, vi phạm pháp luật,. và thua lỗ, phá sản. Nội dung này đã được nghiên cứu bởi Wang (2013) khi cho rằng sự thua lỗ trong kinh doanh (yếu kém về tổ chức, về hoạt động kinh doanh) làm cho khách hàng vay không trả được nợ cho các NHTM và đó là nguyên nhân của RRTD.
Nguyên nhân chủ quan RRTD xuất phát từ chính nhân viên ngân hàng, cụ thể như đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn, nghiệp vụ, các ứng xử. Sự thiếu trách nhiệm, trình 11 độ năng lực yếu kém, tư tưởng đạo đức lệch lạc của nhân viên là nguyên nhân dẫn đến cho vay với những doanh nghiệp, cá nhân hoạt động yếu kém, không đủ điều kiện vay vốn. Nội dung này đã được nghiên cứu bởi Berger và DeYoung (1997) khi cho rằng nợ xấu gia tăng là do ngân hàng chọn sai khách hàng, những khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, điều này bắt nguồn từ sự yếu kém trong công tác đánh giá, thẩm định khách hàng vay. Ngoài ra, RRTD còn xảy ra trong khâu thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay như không xác định đúng vị trí tài sản đảm bảo, không định giá đúng giá trị thực tài sản đảm bảo, giá trị tài sản thế chấp hoặc cán bộ thiếu trách nhiệm, lơ là trong công tác thực hiện các quy định bảo đảm tiền vay tại các cơ quan ban ngành, cơ quan hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó là các chính sách, quy định, kiểm tra, giám sát trong hoạt động cấp tín dụng chưa phù hợp, thiếu chặt chẽ. Das và Ghosh (2007) cho rằng nguyên nhân dẫn tới RRTD là do các NHTM chưa tuân thủ chặt các quy định đảm bảo an toàn vốn. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Chỉ tiêu cơ bản thường sử dụng để đo lường RRTD của NHTM là tỷ lệ nợ xấu (NPLR). Hosna và cộng sự (2009) cho thấy NPLR phản ánh chất lượng tín dụng của các NHTM, chỉ tiêu này xác định tỷ lệ tổn thất cho vay trên tổng dư nợ, cũng như cho biết cách mà các NHTM quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng.
Nhiều nghiên cứu cũng đã sử dụng NPLR để đo lường RRTD của các NHTM. Trong nước có nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), Nguyễn Quốc Anh (2016), Đặng Hoàng Nhật Tâm và Phạm Thị Tuấn Linh (2020), Nguyễn Thành Đạt và cộng sự (2021). Ở nước ngoài có nghiên cứu của Abiola và Olausi (2014), Alshatti (2015), Bizuayehu (2015), Kodithuwakku 12 (2015), Saeed và Zahid (2016), Ishak và cộng sự (2016), Isanzu (2017), Hamza (2017), Serwadda (2018), Inggawati và cộng sự (2018), Ekinci và Poyraz (2019) và Karadayi (2023). Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN tại khoản 8, khoản 9 điều 3 giải thích, nợ xấu là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 và tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.
Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn, ngân hàng có thể mất vốn bởi khách hàng vay không trả được nợ. NPLR được tính theo công thức NPLR = Nợ xấu/ Tổng dư nợ Trong đó, nợ xấu và tổng dư nợ được thu thập từ thuyết minh báo cáo tài chính. Tỷ lệ nợ xấu cho thấy mức chất lượng tài sản có và mức độ rủi ro trong NHTM. Nếu nợ xấu gia tăng, các NHTM phải tăng các khoản trích lập dự phòng, dẫn đến thu nhập giảm.
NPLR là chỉ tiêu cơ bản ảnh hưởng đến KNSL và để đo lường RRTD của các NHTM. Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác cũng ảnh hưởng đến KNSL, cụ thể tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi của khách hàng (LDR) như kết quả của Đặng Hoàng Nhật Tâm và Phạm Thị Tuấn Linh (2020) hay nghiên cứu của Karadayi (2023), tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (TLTA) như nghiên cứu của Ishak và cộng sự (2016), quy mô ngân hàng (SIZE) như nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh (2016), Nguyễn Thành Đạt và cộng sự (2021) và lạm phát (INF) như nghiên cứu của Ekinci và Poyraz (2019). Theo các nghiên cứu trước tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi của khách hàng (LDR): Chức năng chủ yếu của NHTM là trung gian về tài chính, với hoạt động chủ yếu là huy động vốn dưới danh nghĩa tiền gửi và cung cấp lại các sản phẩm vay vốn cho khách hàng. Tiền gửi của khách hàng được bao gồm 13 trong khoản mục nợ phải trả của bảng cân đối kế toán, và là khoản mục luôn chiếm tỷ trọng cao nhất.
Trong khi đó cho vay khách hàng hay dư nợ cho vay thuộc khoản mục tài sản của bảng cân đối kế toán. Chính vì thế, LDR là một trong những chỉ số tài chính rất quan trọng, chỉ số thể hiện mối quan hệ tài chính giữa ngân hàng và khách hàng, mức độ chuyển đổi các khoản tiền gửi mà ngân hàng đã thu được thành các khoản cho vay, cũng như đo lường trạng thái thanh khoản của các ngân hàng. Tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi của khách hàng (LDR) được tính theo công thức LDR = Tổng dư nợ/ Tiền gửi của khách hàng Trong đó, tổng dư nợ thu thập từ thuyết minh báo cáo tài chính, tiền gửi của khách hàng được thu thập từ bảng cân đối kế toán. Ở Việt Nam và trên thế giới cũng phát sinh nhiều nghiên cứu sử dụng tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi của khách hàng để đo lường KNSL của NHTM như Đặng Hoàng Nhật Tâm và Phạm Thị Tuấn Linh (2020), Nguyễn Thành Đạt và cộng sự (2021) hay nghiên cứu của Rengasamy (2014), Bizuayehu (2015), Ishak và cộng sự (2016), Inggawati và cộng sự (2018) và Karadayi (2023) Tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản (TLTA): tổng dư nợ hay cho vay khách hàng là khoản mục chính, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng, chỉ số này được sử dụng để kiểm soát ngân hàng cho vay quá mức.
TLTA = Tổng dư nợ/ Tổng tài sản Trong đó, tổng dư nợ thu thập từ thuyết minh báo cáo tài chính, tổng tài sản thu thập từ bảng cân đối kế toán. Nghiên cứu của Ishak và cộng sự (2016) cho thấy TLTA và ROA có mối quan hệ đồng biến với nhau 14 Quy mô ngân hàng (SIZE): Với quy mô tài sản lớn, ngân hàng có khả năng đa dạng hóa danh mục sản phẩm, giảm thiểu rủi ro danh mục. Quy mô là một lợi thế để các NHTM tiết giảm chi phí. Quy mô ngân hàng được đo bằng cách lấy logarit tự nhiên tổng tài sản của ngân hàng đó.
Có nhiều nghiên cứu sử dụng quy mô ngân hàng để xác định xu hướng và mức độ tác động của quy mô ngân hàng đến KNSL, như nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008), Nguyễn Quốc Anh (2016), Đặng Hoàng Nhật Tâm và Phạm Thị Tuấn Linh (2020), Nguyễn Thành Đạt và cộng sự (2021). Ngoài ra còn có các nghiên cứu ở ngoài nước như Bizuayehu (2015), Saeed và Zahid (2016) và Ekinci và Poyraz (2019) Lạm phát, một chỉ số quan trọng ảnh hưởng đến KNSL của ngân hàng.