Chương 1 đã cung cấp cái nhìn tổng quát về đề tài cũng như đặt nền móng cho những nội dung tiếp theo. Việc nêu rõ lý do chọn đề tài để làm rõ được ý nghĩa của việc nghiên cứu về RRTD và tác động của rủi ro này đến ổn định tài chính của NHTMCP Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể và các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra nhằm làm rõ đối tượng, phạm vi không gian là 27 NHTMCP và phạm vi thời gian là 11 năm từ 2012 đến năm 2022. Và cuối cùng là trình bày kết cấu của khóa luận gồm 5 chương.
Từ đó mở ra cơ sở lý luận và tìm hiểu các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài ở chương tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Nội dung của chương 2 sẽ trình bày khái niệm lý thuyết về RRTD và ổn định tài chính của NH. Tác giả tổng quan nghiên cứu và tổng hợp các kết quả từ các nghiên cứu đó về mối quan hệ giữa RRTD và ổn định tài chính của NHTM. Từ đó, khóa luận sẽ làm rõ những khoảng trống hiện tại và các hướng tiếp cận mới.
RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khải niệm về rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại Hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm phần lớn nguồn thu và lợi nhuận của NH. Tuy nhiên, hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng (RRTD). RRTD là mối quan tâm hàng đầu của các NH, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Theo Graham & Coyle (2000), RRTD được định nghĩa là tổn thất do khách hàng từ chối hoặc không có khả năng thanh toán kịp thời và đầy đủ số nợ. Theo Phan Ngọc Hà (2021) định nghĩa RRTD “là các tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không trả được đầy đủ, đúng hạn các khoản nợ hoặc khách hàng không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ mà NHTM đã bảo lãnh và NHTM phải thực hiện thay các nghĩa vụ này” Ủy ban Basel (BCBS) trong báo cáo của họ vào năm 2000 đã chỉ ra rằng các khoản vay là nguồn gây ra RRTD lớn nhất và rõ ràng nhất đối với các tổ chức tài chính như NH (Basel Committee on Banking Supervision (2000). Hassan et al. (2021) cho rằng RRTD là "khả năng người vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc khả năng thực hiện nghĩa vụ của họ bị suy giảm, dẫn đến tổn thất kinh tế cho ngân hàng" Theo Nguyễn Thanh Phong (2020), RRTD phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, xuất phát từ việc khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo cam kết.
Tác giả này cũng nêu ra hai 8 cách tiếp cận của RRTD là: việc khách hàng trả nợ không đúng hạn và việc khách hàng không thể trả nợ cho NH. Như vậy, từ những khái niệm trên cách tiếp cận RRTD trong bài như sau: RRTD là khả năng tổn thất xảy ra khi người đi vay không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng. Rủi ro này khổng chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm các hoạt động khác như bão lãnh, cam kết,v. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, sẽ dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu thập ròng và tiềm năng gây ra những tổn thất lớn mà sẽ đe dọa hoạt động cốt lõi của một NH.
Đo lường rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại Có nhiều phương pháp khác nhau để đo lường rủi ro tín dụng của NHTM. Trong số đó, đánh giá RRTD thông qua tỷ lệ nợ xấu là một trong những phương pháp đơn giản và dễ hiểu nhất. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ số giữa tổng giá trị nợ quá hạn trên 90 ngày trên tổng giá trị cho vay. Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng danh mục cho vay của NH và khả năng quản lý rủi ro tín dụng của NH.
Theo Barth et al. (2004), việc quản lý RRTD, trong đó tỷ lệ nợ xấu (NPL) đóng vai trò quan trọng, là một yếu tố không thể bỏ qua. NPL cao có thể được coi là một dấu hiệu cho thấy RRTD của các NHTM đang tăng lên, như đã chỉ ra bởi Djebali & Zaghdoudi (2020). Nghiên cứu của Foos et al.
(2010) cũng chỉ ra rằng RRTD có thể tăng lên do NH tham gia vào hoạt động cho vay với rủi ro cao. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Việt Nam được tính theo công thức Nợ nhóm 3+Nợ nhóm 4+Nợ nhóm 5 Tỷ lệ nợ xấu = (2.1) Tổng dư nợ Trong đó: Nợ nhóm 3: Khoản nợ dưới tiêu chuẩn Nợ nhóm 4: Khoản nợ nghi ngờ Nợ nhóm 5: Khoản nợ có khả năng mất vốn.1 đo lường tỷ lệ nợ xấu bằng cách lấy tổng dư nợ từ nhóm 3 đến 4 trên tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ nợ xấu phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của NHTMCP. Tỷ lệ nợ xấu gia tăng hoặc cao hơn mức trung bình ngành là dấu hiệu cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý khoản vay.
Các NHTMCP cần tuân thủ quy định của NHNN về việc duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Ở bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng tỷ lệ nợ xấu, được tính toán từ BCTC thường niên, như một chỉ số đại diện cho RRTD của NHTM. ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm ổn định tài chính của Ngân hàng Thương mại Hệ thống NH đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đảm nhận chức năng điều tiết nguồn vốn, trung gian thanh toán, và nhiều chức năng khác.
Ổn định tài chính NHTMCP là yếu tố then chốt giúp hệ thống tài chính đảm bảo sự an toàn và phát triển bền vững, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Mặc dù đã được nghiên cứu rộng rãi, khái niệm "ổn định tài chính của ngân hàng" vẫn chưa có định nghĩa thống nhất. Các nghiên cứu thường đánh giá mức độ ổn định tài chính của NH dựa trên "ổn định tài chính" trong lĩnh vực NH. Schinasi (2009) định nghĩa ổn định tài chính là khả năng hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả, thúc đẩy kinh tế, quản lý rủi ro và phục hồi trước biến động, đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế.
Ổn định tài chính được định nghĩa là "tình trạng hệ thống tài chính hoạt động trơn tru, đảm bảo các trung gian (NH, công ty chứng khoán) và thị trường tài chính vận hành hiệu quả" (Crockett ,1996). Theo Hoelscher & Quintyn (2003), ổn định tài chính NHTM được định nghĩa là "trạng thái ổn định" mà NH thực hiện hiệu quả các chức năng kinh tế cốt lõi (bao gồm phân bổ nguồn lực, phân tán rủi ro và thanh toán). 10 Sự ổn định tài chính của các NHTM được hiểu là “trạng thái hoạt động hiệu quả, an toàn, không bị tác động bởi yếu tố bất lợi hiện tại hay tương lai, đồng thời giữ vững trước cú sốc kinh tế." (Nguyễn Thị Kiều Nga & Trần Huy Hoàng, 2020) Như vậy, ở bài nghiên cứu này tác giả định nghĩa ổn định tài chính của NHTM là trạng thái mà NH duy trì hoạt động an toàn, hiệu quả. Hoàn thành tốt vai trò và các chức năng của NH như trung gian thanh toán và tin dụng.
Đồng thời sỡ hữu nền tảng tài chính vững mạnh, có thể thích ứng và phục hồi nhanh chóng trước mọi biến động kinh tế. Đồng thời, NH cũng không gây ra các cú sốc ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Ổn định tài chính NH đóng vai trò quan trọng cho hệ thống tài chính và nền kinh tế. Đo lường ổn định tài chính của Ngân hàng Thương mại Đánh giá mức độ ổn định tài chính của NHTM là một vấn đề quan trọng, và đã được tiếp cận bằng các phương pháp khác nhau.
Trong số các phương pháp, chỉ số Z-Score là một công cụ phổ biến được sử dụng rộng rãi bởi các nhà nghiên cứu và tổ chức uy tín trong lĩnh vực tài chính. Z-score là một chỉ tiêu phổ biến về mức độ an toàn của NH, được xây dựng trên mối quan hệ của VCSH, lợi nhuận và biến động do bất ổn hay rủi ro (được đo bằng độ lệch chuẩn của lợi nhuận ngân hàng) (Cihak & Hesse, 2010). Chỉ số Z-Score được phát triển ban đầu bởi Altman (1968) nhằm dự đoán khả năng phá sản của các doanh nghiệp dựa trên các yếu tố tài chính. Mô hình Z-Score ban đầu bao gồm 5 biến và sau này đã được rút gọn thành 4 biến vào năm 1995.
Boyd & Runkle (1993) đã áp dụng mô hình này vào đánh giá ổn định tài chính NHTM với công thức tính toán như sau: ROA+ E⁄A (2.2) Z-scoreit = σ(ROA) Trong đó: 11 ROA: Tỷ suất sinh lời trên TTS bình quân, thể hiện hiệu quả hoạt động của NH. E/A: Tỷ lệ VCSH trên TTS. σ(ROA): Độ lệch chuẩn của ROA Từ công thức 2.2, có thể thấy Zscore thể hiện ba góc độ đánh giá ổn định của NHTM, bao gồm hiệu quả hoạt động của NH (ROA), mức độ an toàn tài chính (E/A) và mức độ biến động của lợi nhuận (độ lệch chuẩn của ROA). Thông qua chỉ số này, có thể tính toán được mức độ chấp nhận rủi ro của các NH.
Theo Köhler (2015), Z- score được xem như một chỉ tiêu quan trọng đo lường ổn định và rủi ro của NHTM. Mặc dù Z-Score có ưu điểm về tính linh hoạt, dễ tính toán và hiệu quả, nhưng cũng cần lưu ý Z-Score cũng dễ bị ảnh hưởng bởi dữ liệu tài chính và không tính đến rủi ro hệ thống. Việc Z-score càng cao, mức độ rủi ro thấp chứng tỏ sự ổn định tài chính NH sẽ tăng lên. Ngược lại khi Z-score càng thấp thì NH đang gặp khó khăn tài chính, từ đó xác suất vỡ nợ của NH đó sẽ lớn hơn.
TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Rủi ro tín dụng (RRTD) là một trong những rủi ro quan trọng nhất mà NH phải đối mặt. Tác động của RRTD đến ổn định tài chính của NHTMCP được nhiều nghiên cứu thể hiện: Theo nghiên cứu của DeYoung & Whalen (1998), nguyên nhân chính dẫn đến phá sản của NHTM không phải do hiệu quả hoạt động kém, mà là do lượng nợ xấu tăng cao. Điều này cho thấy RRTD đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định của NHTM.