CHƯƠNG 1 Đề tài nghiên cứu tiếp cận dưới các góc độ tài chính, chương này đã chỉ ra tính tất yếu và cần thiết của việc nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng về KNSL của các NHTM với sự tác động của TTCV và RRTD. Từ các lý thuyết về ngân hàng thương mại, TTCV, RRTD và KNSL của các NHTM, đề tài đã chỉ ra mối quan hệ trong nghiên cứu giữa tác động như thế nào của TTCV và RRTD đến KNSL; sau đó nghiên cứu cũng đã kết hợp với các nghiên cứu thực tiễn, đề tài đã khẳng định được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của vấn đề đặt ra nghiên cứu. Sau khi xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả đã xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể tại chương này, đồng thời xác định giải quyết vấn đề và đạt mục tiêu nghiên cứu thông qua trả lời các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra đối tượng nghiên cứu của đề tài, và xác định giới hạn phạm vi nghiên cứu về thời gian và không gian.
Tiếp theo, tác giả đã giới thiệu khái quát dữ liệu kèm theo phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, sau đó chương này đã khẳng định được những ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Cuối cùng, tác giả đã thực hiện cung cấp những thông tin khái quát về cấu trúc đề tài luận văn, bao gồm 05 chương nội dung chính. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tác động của TTCV đến KNSL của các ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm TTCV TTCV là việc các NHTM sử dụng vốn để gia tăng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của các tổ chức, cá nhân, theo Nguyễn Văn Tiến (2013). Tương tự, Lane P.R, McQuade (2014) đã chỉ ra rằng, TTCV được xem là hoạt động gia tăng giá trị dư nợ cho vay trong khu vực tư nhân, bao gồm cả đối tượng là các cá nhân và cả các tổ chức. Thúc đẩy chỉ tiêu gia tăng quy mô tín dụng, từ đó các khách hàng có thể vay mượn được nhiều dòng vốn hơn để sử dụng cho các mục đích chi tiêu, đầu tư vào kinh doanh. Ngoài ra, theo Nguyễn Minh Kiều (2007), việc cho vay của NHTM cho các chủ thể trong nền kinh tế là một trong những nghiệp vụ mà ngân hàng đang sử dụng vốn, trong đó NHTM đóng vai trò là người cho vay và khách hàng là người nhận khoản tín dụng đó để sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Từ đó, rút ra hoạt động cho vay là một trong những nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu trong các nghiệp vụ tài sản có sinh lời của NHTM. Do đó, TTCV được xem là công cụ cực kỳ quan trọng và đóng vai trò đặc biệt. Nhằm thúc đẩy thực hiện hóa mục tiêu gia tăng nguồn thu nhập, đảm bảo mục tiêu gia tăng LN và tiến đến nâng cao giá trị tài sản cho chủ sở hữu của NHTM. Từ các tiếp cận trên, tác giả cho rằng TTCV được hiểu là sự tăng thêm về giá trị của khoản cho vay của NHTM dành cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, có thể theo tháng, quý, hoặc năm, … 2.
Các chỉ tiêu đo lường TTCV Căn cứ vào các khái niệm trên, để đo lường TTCV của các NHTM tại Việt Nam, thông thường đồng thời quan tâm đến tăng trưởng doanh số cho vay và tăng 11 trưởng dư nợ cho vay. Như vậy, xét trên phương diện cả về quy mô lẫn tỷ lệ. Vì vậy, tăng trưởng cho vay của các NHTM sẽ được đo lường bởi các chỉ tiêu sau đây: Một là, Mức tăng/giảm của doanh số cho vay: Mức tăng/giảm doanh = Doanh số cấp tín – Doanh số cấp tín số cho vay dụng thời kỳ t dụng thời kỳ t-1 Mức tăng/giảm doanh số cho vay chỉ ra được mức thay đổi tuyệt đối của doanh số cho vay. Nghĩa là được hiểu đây là sự thay đổi dựa vào quy mô giá trị doanh số cho vay mạnh hay yếu, nhiều hay ít qua nhiều thời kỳ liên tiếp nhau.
Tức sự thay đổi quy mô giá trị doanh số cho vay của NHTM giữa 2 thời kỳ, thông thường là hai thời kỳ liên tiếp nhau hay giữa các NHTM với nhau thì tỷ lệ tăng/giảm doanh số cho vay được sử dụng làm biến nghiên cứu. Hai là, Tỷ lệ tăng/giảm doanh số cho vay. Doanh số cho Doanh số cho vay - Tỷ lệ tăng/giảm vay thời kỳ t thời kỳ t-1 = x 100% doanh số cho vay Doanh số cho vay thời kỳ 1 Tỷ lệ tăng/giảm doanh số cho vay cho biết xu hướng biến động doanh số cho vay qua các thời kỳ liên tiếp nhau, nếu doanh số cho vay thời kỳ trước là 100 đồng thì doanh số cho vay thời kỳ này tăng hay giảm bao nhiêu so với thời kỳ trước. Chính vì vậy, tỷ lệ tăng/giảm doanh số tín dụng được sử dụng để đánh giá khả năng tăng trưởng doanh số cho vay qua nhiều thời kỳ.
Ba là, Mức tăng/giảm dư nợ tín dụng, Mức tăng/giảm = Dư nợ tín dụng – Dư nợ tín dụng dư nợ tín dụng thời điểm n thời điểm n-1 Mức tăng/giảm dư nợ tín dụng cho biết mức thay đổi tuyệt đối của số dư nợ cho vay, tức dự thay đổi quy mô giá trị dư nợ cho vay của NHTM giữa 2 thời điểm 12 liên tiếp nhau của kỳ này và kỳ trước. Đối với đánh giá tăng trưởng dư nợ tín dụng mạnh hay yếu, nhiều hay ít qua nhiều thời điểm liên tiếp nhau hay giữa tăng trưởng dư nợ tín dụng trong một thời kỳ giữa các NHTM với nhau thì tỷ lệ tăng/giảm dư nợ tín dụng được sử dụng sẽ hợp lý hơn. Bốn là, Tỷ lệ tăng/giảm dư nợ tín dụng. Dư nợ tín dụng Dư nợ tín dụng - Tỷ lệ tăng/giảm thời điểm n thời điểm n-1 = x 100% dư nợ tín dụng Dư nợ tín dụng thời điểm n-1 Tỷ lệ tăng/giảm dư nợ tín dụng tại thời điểm n nói lên xu hướng biến động dư nợ tín dụng giữa 2 thời điểm, thông thường là giữa thời điểm cuối kỳ so với đầu kỳ.
Nếu dư nợ tín dụng thời điểm đầu kỳ là 100 đồng thì dư nợ tín dụng thời điểm cuối kỳ tăng/giảm bao nhiêu đồng so với thời điểm đầu kỳ. Được hiểu là dư nợ tín dụng tăng lên hay giảm xuống bao nhiêu %. Vì vậy, tỷ lệ tăng/giảm dư nợ tín dụng được sử dụng để đánh giá khả năng tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các thời điểm liên tiếp nhau sẽ hợp lý. Cơ sở lý thuyết về tác động của TTCV đến KNSL của các NHTM Như được biết nghiệp vụ huy động vốn và cho vay là hai hoạt động kinh doanh truyền thống và là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM, thỏa theo chức năng đáp ứng mắc xích trung gian tài chính trong nền kinh tế luôn luôn vận động.
Do đó, chênh lệch giữa thu nhập lãi từ cho vay với chi phí lãi của nguồn vốn huy động hình thành LN chủ yếu của các ngân hàng (Nguyễn Văn Thuận, 2017). Như vậy đây cũng được gọi là thu nhập lãi cận biên (NIM-Net Interest Margin) – thang đo đặc trưng để đánh giá hiệu quả sinh lời của NHTM (Rose 1999; Ugur và Erkus, 2010). Được hiểu về góc độ của quản trị tài chính, thuật ngữ thu nhập lãi cận biên là một trong các chỉ tiêu đánh giá bức tranh năng lực của NHTM trong việc đảm bảo tăng trưởng các khoản thu nhập từ cho vay và mục tiêu tiết kiệm chi phí lãi vay từ huy động vốn. Nhờ vào chỉ tiêu này giúp các NHTM dễ dàng kiểm soát được tài sản nào sẽ có KNSL tốt nhất.
Từ đó, ngân hàng sẽ đưa ra chiến lược để phân bổ nguồn lực vào các tài sản sinh lời đó 13 một cách hiệu quả nhất. Hiệu quả thu nhập từ lãi trong kỳ tốt nhất do đảm bảo được hiệu quả hoạt động huy động vốn và cho vay một cách có sự quản trị và cân nhắc đầy đủ các yếu tố thị trường vĩ mô đến thực tại năng lực kinh doanh của ngân hàng. Theo Nguyễn Minh Kiều (2007), ta đánh giá chung về nghiệp vụ cho vay của NHTM, đây là chủ thể góp vai trò làm chủ thể trong hoạt động cho vay. Dòng vốn được cấp cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng là các cá nhân và doanh nghiệp sẽ được hoàn trả lại sau một khoản thời gian chậm trả nhất định được quy định trong thỏa thuận cho vay của hai bên.
Từ đó, việc cho vay là một trong những nghiệp vụ được xem là cơ bản nhất cũng là quan trọng trong các nghiệp vụ tài sản để tạo ra KNSL của NHTM. Mức độ TTCV đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu gia tăng thu nhập và cũng đồng thời hợp thức hóa mục tiêu thúc đẩy LN và tiến đến nâng cao giá trị của NHTM và mang lại nguồn LN và tài sản cho các cổ đông sở hữu ngân hàng. Đánh giá theo Lý thuyết lợi thế kinh tế vì quy mô (Economic of scale theory), khi các NHTM tiếp tục mở rộng TTCV, kéo theo sẽ gia tăng thêm các cơ hội, tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, tỷ lệ gia tăng thu nhập cũng có xu hướng vượt trội hơn so với tỷ lệ gia tăng chi phí.
Qua đó tác động đến KNSL của các NHTM. Ở chiều ngược lại, theo Lý thuyết bất lợi kinh tế vì quy mô (Diseconomies of scale theory) nếu các NHTM mở rộng TTCV quá mức giới hạn cho phép. Dẫn đến các NHTM phải bắt buộc đối diện với sự gia tăng chi phí cao hơn, đó là điều tất yếu. Do đó, việc này dẫn đến tỷ lệ gia tăng thu nhập thấp hơn tỷ lệ lên gia tăng của chi phí và đồng thời KNSL cũng giảm theo.
Bên cạnh đó, lý thuyết quá lớn có thể đổ vỡ (Too big to fail theory) cũng đưa ra gợi ý tương tự như Lý thuyết bất lợi kinh tế vì quy mô. Cụ thể, nếu các NHTM lựa chọn TTCV ở mức quá cao, thì có thể dẫn đến thất bại, biểu hiện của sự việc này thỏa dưới góc độ tài chính cụ thể là TTCV sẽ làm giảm KNSL của NHTM. Đánh giá tác động của TTCV đến KNSL của NHTM được nêu ra bởi hai lý thuyết như sau: 14 Thứ nhất, chính sách mở rộng TTCV có thể tác động ngược chiều đến KNSL của NHTM, cơ sở đưa ra lý giải này cho rằng khi ngân hàng có thể thực hiện gia tăng việc cho vay với lãi suất thấp hơn và có thể làm cho thu nhập lãi cận biên cũng như KNSL của ngân hàng sẽ thấp hơn theo.