Chương 1 của nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan các vấn đề của bài nghiên cứu đặt ra. Từ những mục tiêu đó tác giả tiến hành thu thập và phân tích số liệu thực tế về tình hình hoạt động của các NHTMCP ở Việt Nam để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTMCP ở Việt Nam. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Tổng quan về rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại 2.
Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2. Một số khái niệm về rủi ro tín dụng Theo Coyle (2000), "RRTD là tổn thất do khách hàng từ chối hoặc không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ. RRTD là rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt khi người đi vay (khách hàng) không thực hiện nghĩa vụ nợ đúng hạn hoặc khi đáo hạn. Rủi ro này có thể khiến cho ngân hàng dẫn đến phán sản nếu không dược quản lý phù hợp”.
Theo Campbell (2007), “RRTD là rủi ro liên quan đến khoản vay do ngân hàng cấp, khoản vay này sẽ không được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ đúng hạn”. Theo Gande (2008), “tín dụng thường là quá trình vay và cho vay tiền. Các NHTM thường xuyên hoàn thiện các hoạt động kinh doanh của ngân hàng bằng cách cung cấp cho khách hàng một khoản nợ mới”. Có một số nguồn rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động động của ngân hàng, chẳng hạn như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro chính trị.
Trong đó, RRTD là rủi ro cao nhất mà các ngân hàng phải đối mặt. Chen và Pan (2012) cho thấy RRTD là tỷ lệ biến động của các công cụ nợ hoặc các sản phẩm phái sinh do thay đổi về chất lượng tín dụng của người đi vay và các bên liên quan. Khoản vay ngân hàng là khoản nợ liên quan đến việc phân phối lại tài sản tài chính giữa người cho vay và người vay, thường đề cập đến việc người đi vay nhận một số tiền từ người cho vay và phải trả lại số tiền được gọi là tiền gốc. Ngoài ra, ngân hàng thường tính một khoản phí đối với người đi vay là lãi suất của khoản nợ.
Theo Afriyie và Akotey (2012), tình hình RRTD của ngân hàng có thể trở nên tồi tệ hơn do thiếu năng lực thể chế, tư vấn tín dụng không hiệu quả, hội đồng quản trị kém, hệ số thanh khoản và tỷ lệ an toàn vốn thấp, cũng như thiếu sự giám sát thích hợp của ngân hàng trung ương. Theo Win (2018), “RRTD có thể được định nghĩa đơn giản là rủi ro mà người vay ngân hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình theo các điều kiện và điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng”. Ngoài ra, RRTD còn là một trong các mối đe doạ với độ tin cậy của các NHTM. Chi phí biên của nợ và vốn chủ sở hữu có thể tăng lên do RRTD gia tăng, điều này làm gia tăng 6 chi phí vốn của ngân hàng và do đó dẫn đến các hạn chế về khả năng thanh toán (Almekhlafi và cộng sự, 2016).
Rủi ro tín dụng là việc ngân hàng cấp tín dụng cho một bên (công ty, cá nhân hoặc tổ chức tài chính khác) theo một thoả thuận hoặc hợp đồng tài chính, trong đó bên đi vay không đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng (Incekara & Cetinkaya, 2019). Theo đó, RRTD là rủi ro gây ra bởi sự thiếu chính xác trong việc tính toán khả năng vỡ nợ của đối tác. Ở cấp độ vi mô, Mpofu và Nikolaidoa (2018); Priyadi và cộng sự (2021) cho rằng, rủi ro tín dụng là rủi ro nghiêm trọng nhất mà các ngân hàng phải đối mặt trong hoạt động của mình. Một mặt, RRTD thường được định nghĩa ở cấp độ vi mô là là “rủi ro của khoản vay không được thanh toán (một phần hoặc toàn bộ) cho người cho vay” (Naili và Lahrichi, 2022).
Mặt khác, hậu quả của nó có thể xảy ra ở cấp độ vĩ mô do tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế của hệ thống ngân hàng (Koju và cộng sự, 2020), tức là RRTD cao tác động đến sự ổn định kinh tế của một quốc gia (Priyadi và cộng sự, 2021). Lý thuyết về rủi ro tín dụng theo chuẩn mực BASEL II tại ngân hàng thương mại Theo Uỷ ban Basel và giám sát ngân hàng (1999): “Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng mà các khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được nghĩa vụ của mình theo các điều kiện đã thảo thuận. Theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thoả thuận với TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tóm lại, có thể hiểu đơn giản “Rủi ro tín dụng phát sinh trong cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng, do khách hàng đã không tuân thủ theo đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã cam kết, biểu hiện qua việc không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ (bao gồm nợ gốc và lãi vay) theo đúng thời hạn đã ấn định hoặc không trả được nợ cho ngân hàng” 2.
Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Về mặt lý thuyết theo chuẩn mực của Basel II, đo lường RRTD thực chất là quá trình sử dụng các công cụ, kỹ thuật và phương pháp để xác định mức độ RRTD. Mục đích của 7 việc đo lường đánh giá RRTD là xác định mực độ RRTD từ đó ước lượng mức độ tổn thất do RRTD gây ra và có kế hoạch ứng phó kịp thời để hạn chế tổn thất cho ngân hàng. Kết quả đo lường đánh giá RRTD tác động trực tiếp đến khả năng kiểm soát RRTD của ngân hàng. Vì vậy, việc đo lường đánh giá RRTD phải được thực hiện một cách chính xác và kịp thời ở cấp độ từng khoản tín dụng riêng lẻ và danh mục tín dụng.
Về mặt thực nghiệm, theo Sobarsyah và cộng sự (2020), rủi ro tín dụng thường được đo lường thông qua hai thước đo bao gồm: tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay trên tổng dư nợ cho vay (LLP) và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (NPL). Việc sử dụng LLP và NPL đại diện cho rủi ro tín dụng đã được ghi nhận rộng rãi trong các tài liệu nghiên cứu về rủi ro tín dụng ngân hàng (Soedarmono & cộng sự, 2017; Antony & cộng sự, 2023). Khi hai chỉ tiêu LLP và NPL gia tăng đồng nghĩa rằng RRTD của các ngân hàng cũng gia tăng. Theo đó, NPL lại là thước đo rủi ro tín dụng quá khứ khi tổn thất cho vay đã xảy ra, còn LLP là thước đo cho rủi ro tín dụng có tầm nhìn hướng đến tương lai và thường phụ thuộc vào quyết định của nhà quản lý trong việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụngdự kiến do những thay đổi của các yếu tố đặc thù ngân hàng và quốc gia cụ thể.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (Non performing loans - NPL) Các nhà khoa học chỉ ra rằng RRTD thường được đo lường bằng các khoản nợ xấu (Gila – Gourgoura và cộng sự, 2018). Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (NPL) so sánh quy mô nợ xấu với tổng quy mô tín dụng mà ngân hàng đã cho vay. Tỷ lệ nợ xấu cao hơn cho thấy các ngân hàng có nguy cơ mất khoản vay và các chi phí liên quan đến khoản vay cao hơn (Wu & cộng sự, 2022). Chỉ tiêu NPL đo lường tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu như: Naili và Lahrichi (2022), Alrfai và cộng sự (2022), Rizqua và cộng sự (2023); Yagli và cộng sự (2023); Rini và cộng sự (2023); Kornelia và cộng sự (2023);… 2.
Tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay trên dư nợ cho vay (Loan loss provisions - LLP) Một thước đo khác của rủi ro tín dụng được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học đó là dự phòng rủi ro cho vay. Về phương diện quản lý rủi ro, tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay (LLP) là một trong những chính sách thiết lập của ngân hàng để khắc phục RRTD có thể 8 xảy ra trong tương lai hay nói cách khác LLP được sử dụng như một công cụ để kiểm soát RRTD. Chỉ tiêu LLP được tính toàn bằng tỷ lệ chi phí dự phòng RRTD trên dư nợ cho vay, được dùng để đại diện cho RRTD trong các nghiên cứu như: Karoglou và cộng sự (2018); Sobarsyah, M. và cộng sự (2020); Antony và cộng sự (2023),… Tóm lại, mặc dù có nhiều thước đo cho RRTD.
Tuy nhiên, áp dụng góc độ quản lý và để thuận tiện cho việc thu thập dữ liệu, tác giả sẽ sử dụng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (NPL) để đại diện cho thước đo rủi ro tín dụng trong nghiên cứu này. Quan điểm này được ủng hộ bởi nhiều nghiên cứu trước đây như Naili và Lahrichi (2022), Alrfai và cộng sự (2022), Rizqua và cộng sự (2023); Yagli và cộng sự (2023); Rini và cộng sự (2023); Kornelia và cộng sự (2023);… 2. Các lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Lý thuyết tài chính dựa trên giả định rằng thị trường hoàn hảo. Trong đó, thông tin đang lưu hành trên thị trường sẽ đến được với tất cả các nhà đầu tư mà không mất phí và ngay lập tức được phản ánh vào giá cả.
Thị trường tín dụng cũng không ngoại lệ và thường chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự không hoàn hảo do sự hiện diện của các thông tin bất cân xứng. Người cho vay có thể thiếu thông tin cần thiết để định giá khoản vay; công việc này phải phản ánh mức độ rủi ro của người đi vay, nghĩa là xác xuất vỡ nợ của họ. Do đó, người cho vay sẽ phải đối mặt với chi phí để sàng lọc người nộp đơn an toàn khỏi những người nộp đơn rủi ro và giám sát hành động của người đi vay; do đó, người cho vay có thể yêu cầu các khoản phí bổ sung, nghĩa là người cho vay có thể thêm một khoản phần bù vào lãi suất, từ đó lãi suất cao có thể phản ánh chi phí cao các hoạt động này (Hoff và Stiglitz, 1990). Tuy nhiên, việc tăng lãi suất có thể có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng, vì điều đó có thể khiến người đi vay rủi ro bất chấp lựa chọn vay vốn.