CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, các công ty cổ phần đa quốc gia xuất hiện tại Việt Nam ngày càng nhiều, vấn đề đa dạng quốc tịch trong hội đồng quản trị được chú trọng hơn. Điều này lý giải cho việc xuất hiện những cá nhân với quốc tịch khác nhau trong hội đồng quản trị của những công ty này với mục đích tăng hiệu quả hoạt động công ty. Thực tế thấy rõ, số lượng người mang quốc tịch nước ngoài trong Hội đồng quản trị cũng tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, đặc biệt ở các Ngân hàng lớn như Vietinbank, Vietcombank, ACB là các Ngân hàng được góp vốn bởi các tổ chức nước ngoài.
Bên cạnh đó, trong thời đại ngày nay, phái nữ đã tự khẳng định bản thân qua hiệu quả công việc, vì thế vai trò của phái nữ được xem trọng. Các quốc gia cũng chú ý đến vấn đề giới tính, luật pháp các nước bắt buộc có tối thiểu một tỉ lệ nữ nhất định trong hội đồng quản trị. Do đó, sự đa dạng trong hội đồng quản trị càng thể hiện rõ nét. Các ngân hàng ở Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng của thế giới.Trong báo cáo thường niên của Ngân hàng, số lượng nữ trong hội đồng quản trị chiếm tỷ lệ tương đối cao, khoảng 14% đến 18% vào giai đoạn 2006-2015 với mẫu nghiên cứu gồm 30 Ngân hàng mà tác giả xem xét.
Trên thế giới, vần đề đa dạng giới tính và quốc tịch được quan tâm nghiên cứu (Emma García-Meca et al. Ở Việt Nam, mặc dù có một số bài nghiên cứu xem xét đa dạng giới tính là một trong các yếu tố của quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhưng không tâp trung nghiên cứu riêng về tính đa dạng trong Hội đồng quản trị và chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể (Duc Vo and Thuy Phan, 2014). Vì thế, tác giả đã tiến hành xem xét mối quan hệ của sự đa dạng trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động ở lĩnh vực Ngân hàng. Khác với các bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa đa dạng Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động trên thế giới, bài nghiên cứu này đo lường hiệu quả hoạt động bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis), không giống với việc 2 đo lường hiệu quả hoạt động của Ngân hàng vẫn thường thấy qua ROA, ROE, Tobin Q.
Trước thực trạng và lý thuyết vừa đề cập, vấn đề đặt ra ở đây là: Với sự gia tăng số lượng thành viên nữ và người mang quốc tịch nước ngoài (đa dạng hoá trong hội đồng quản trị) có làm tăng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng hay không? Yếu tố nào trong hai yếu tố trên có tác động đáng kể lên hiệu quả hoạt động ngân hàng? Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: “Mối quan hệ của sự đa dạng trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” để giải thích cho vấn đề trên. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tìm kiếm, thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính theo năm, báo cáo thường niên, nghị quyết Đại hội cổ đông của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2015. Số liệu tập trung vào Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh, cơ cấu hội đồng quản trị, số liệu các cuộc họp hội đồng cổ đông của 30 ngân hàng thương mại Việt Nam (Phụ lục 1). Tác giả đưa ra phạm vi nghiên cứu trên bởi vì nguồn số liệu của thời kì này có tính đồng bộ, đầy đủ và có độ tin cậy cao.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài nghiên cứu tìm hiểu tác động của sự đa dạng trong hội đồng quản trị (thông qua hai nhân tố là tỷ lệ thành viên mang quốc tịch nước ngoài đại diện cho đa dạng hoá quốc tịch và tỷ lệ thành viên nữ đại diện đa dạng hoá giới tính) lên hiệu quả hoạt động Ngân hàng. Câu hỏi nghiên cứu Có hay không mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại? 3 Có hay không mối quan hệ giữa sự đa dạng quốc tịch trong hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại? 1. Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ thực hiện hai bước: Đầu tiên, tác giả đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên-Stochastic Frontier Analysis (SFA). Kế tiếp sẽ thực hiện hồi quy mô hình bằng phương pháp Difference Generalized Method of Moments (khắc phục hiện tượng nội sinh, phương sai thay đổi, tự tương quan trong mô hình) để thấy rõ có hay không tác động của sự đa dạng hội đồng quản trị lên hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại Việt Nam.
Kết quả mong đợi Về lý thuyết: Kiểm định được hiệu quả hoạt động Ngân hàng thương mại theo sự đa dạng trong hội đồng quản trị (thông qua hai nhân tố là đa dạng hoá giới tính và đa dạng hoá quốc tịch). Trong đó, hiệu quả hoạt động được xác định thông qua phương pháp Stochastic Frontier Analysis (SFA). Về thực nghiệm: thông qua kết quả mô hình kiểm định biết được rõ ràng mối quan hệ cùng chiều hoặc nghịch chiều của đa dạng hoá giới tính, đa dạng hoá quốc tịch trong HĐQT và hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Việt Nam. Dựa theo kết quả nghiên cứu đề xuất những kiến nghị thích hợp cho các ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ SỰ ĐA DẠNG HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG Theo cách lý giải thông thường, đa dạng hoá nghĩa là nhiều người mang những đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, không có định nghĩa thống nhất về đa dạng hoá. Sự đa dạng trong Hội đồng quản trị có thể cấu thành từ nhiều nhân tố khác nhau. Theo truyền thống, chúng ta có thể xem xét các yếu tố như tuổi tác, giới tính, quốc tịch, trình độ học vấn và chuyên môn của các thành viên tạo nên sự đa dạng trong Hội đồng quản trị.
Một số nghiên cứu cũng đề cập các yếu tố khác của sự đa dạng như kinh nghiệm sống và thái độ, tính cách cá nhân. Mục đích đa dạng hoá Hội đồng quản trị là mở rộng các đặc điểm và tính cách các thành viên trong Hội đồng quản trị. Trong thực tế, để tối đa hoá giá trị của mình, doanh nghiệp nên lựa chọn cấu trúc HĐQT phù hợp và có những đề xuất đúng đắn về đa dạng nhân học. Ở các nước trên thế giới như Mỹ, vấn đề dân tộc ngày càng được chú ý và tại châu Âu, sự đa dạng quốc tịch trong Hội đồng quản trị có chiều hướng tăng lên (Oxelheim and Randøy, 2003; Ruigrok et al.
Thực tế tại Việt Nam, trong Hội đồng quản trị các Ngân hàng thương mại, tỉ lệ nữ khá cao so với các nước trên thề giới và tỉ lệ thành viên mang quốc tịch nước ngoài tăng lên đáng kể chỉ trong vòng vài năm. Điều này thúc đầy tác giả nghiên cứu sự đa dạng thông qua hai nhân tố chính là giới tính và quốc tịch (Emma García-Meca et al. Vì vậy, trong chương 2 này, tác giả sẽ đưa ra cơ sở lý thuyết về tác động của đa dạng hoá giới tính và đa dạng hoá quốc tịch trong Hội đồng quản trị lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Cơ sở lý thuyết về tác động của đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị lên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Theo lý thuyết về phong cách lãnh đạo giữa nam và nữ, tồn tại sự khác biệt ảnh hưởng đến quản trị doanh nghiệp, nữ giới mang phong cách lãnh đạo tốt hơn so với nam giới.
Sự khác nhau trong các phong cách ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản trị công ty, tạo ra những đặc trưng riêng biệt trong môi trường hoạt động của công ty 5 đó. Rất nhiều nghiên cứu đánh giá sự khác nhau giữa phong cách lãnh đạo giữa nam và nữ trong độ tuổi từ 50 trở lên và nhận thấy rằng có sự khác nhau trong phong cách lãnh đạo giữa hai nhóm này. Tuy nhiên, sự khác nhau này rất nhỏ, không thấy rõ do sự phân công công việc chồng chéo giữa các lãnh đạo nam và nữ (Eagly, 2013). Những nhà nghiên cứu đặc biệt phân tích và trình bày một phong cách quản trị khá hiệu quả là phong cách quản trị chuyển đổi (transformational style of leadership) để có thể hiểu rõ mối quan hệ của các dạng hành vi (Avolio, 2010).
Theo đó, các nhà quản trị theo phong cách quản trị chuyển đổi thành công trong việc áp dụng mô hình này để tạo cảm hứng, ươm mầm cho các mối quan hệ, cải thiện những kỹ năng của nhân viên và thúc đẩy quá trình tư duy nhằm mục đích cải tiến công việc. Những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nữ quản lý thường áp dụng phong cách quản trị này nhiều hơn nam quản lý. Với những phong cách quản trị khác như trường phái chuyển giao (transactional leadership) cũng được áp dụng bởi các nữ quản lý để thúc đẩy các thành viên hoạt động tích cực và đưa ra phần thưởng thích hợp dựa trên công sức bỏ ra. Một sự khác nhau nữa là nữ quản lý thường áp dụng phong cách lãnh đạo dân chủ hơn nam quản lý (Merchant, 2012).
Nam quản lý thường áp dụng phong cách quản trị từ trên xuống dưới, mang tính chất chỉ huy và kiểm soát, thường nghiêm khắc và hay đe doạ để đạt được hiệu quả. Mặc dù nữ quản lý tương tác với cá nhân khác kém hơn so với nam quản lý nhưng vai trò của nam giới có xu hướng giảm trong những năm gần đây, điều này được thể hiện qua việc tăng cường sự hiện diện của phái nữ trong quản trị công ty (Eagly, 2013). Mở rộng phân tích khác cho thấy rằng phụ nữ có thể kết hợp cả hành vi quản trị giữa nam và nữ một cách tốt hơn (Eagly, 2013). Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị là một yếu tố của quản trị doanh nghiệp ảnh hưởng lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Các thành viên nữ trong Hội đồng quản trị phản ánh sự đa dạng trong hội đồng quản trị (Dutta and Bose, 2006). Ngoài ra, có ba lý do khác nhau cho thấy tầm quan trọng của phụ nữ trong Hội đồng quản trị. Thứ nhất, các thành viên nữ trong hội đồng quản trị thường có sự hiểu biết về một thị trường nhiều hơn so với các thành viên nam.