Chương 1. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của NHTM cổ phần. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng TMCP Việt Nam. Chương 3: Kết luận và một số khuyến nghị 12 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. Lý thuyết về hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thƣơng mại cổ phần 1. Khái niệm về hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) là một chỉ số quan trọng được sử dụng để đánh giá mức độ an toàn vốn của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Hệ số này thể hiện tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với các tài sản có rủi ro mà ngân hàng đang giữ.
CAR giúp định hình mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận khi gặp phải những khó khăn tài chính và đồng thời đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để bù đắp cho các khoản lỗ tiềm ẩn. Hệ số này cũng giúp cơ quan quản lý tài chính theo dõi và đảm bảo rằng các ngân hàng hoạt động một cách an toàn và không gây ra rủi ro cho hệ thống tài chính quốc gia. Một hệ số CAR cao cho thấy ngân hàng có một nền tảng vốn vững chắc và ít phụ thuộc vào các khoản vay nợ ngoài để duy trì hoạt động của mình, trong khi một hệ số CAR thấp có thể cảnh báo về nguy cơ tài chính mà ngân hàng đang phải đối mặt. Vai trò của hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần 1.
Đối với ngân hàng thương mại cổ phần - Hệ số an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng: CAR được cấu thành bởi hai thành phần rất quan trọng đó là vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi. Nếu như vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế. Vì vậy CAR chính là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Một ngân hàng có CAR đạt tiêu chuẩn theo quy định nghĩa là ngân hàng có khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền gửi.
13 - Thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn giúp tăng uy tín cho NHTM. Kinh doanh tiền gửi là một loại hình kinh doanh đặc biệt mà trong đó uy tín của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngân hàng. Một ngân hàng có hệ số an toàn đạt tiêu chuẩn không đơn thuần là việc ngân hàng đã chấp hành đúng quy định của ngân hàng trung ương đặt ra mà bản thân ngân hàng sẽ tạo được uy tín đối với khách hàng. Tạo được uy tín đối với khách hàng cũng đồng nghĩa với khả năng tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác.
Đối với Ngân hàng Trung ương CAR là công cụ để thanh tra ngân hàng trung ương thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là kiểm tra việc đảm bảo vốn thực có so với vốn đăng ký ghi trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra quỹ dự phòng rủi ro có chấp hành theo quy định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM. Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản điều này có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của cả quốc gia. Đối với nền kinh tế Hệ số an toàn vốn (CAR – Capital Adequacy Ratio) là một chỉ số tài chính quan trọng dùng để đo lường mức độ an toàn của nguồn vốn của các tổ chức tín dụng và ngân hàng trước những rủi ro mà họ có thể phải đối mặt. Trên bản chất, CAR giúp đảm bảo rằng các ngân hàng hoạt động với một lượng vốn tối thiểu cần thiết, giảm thiểu nguy cơ phá sản và bảo vệ tiền gửi của khách hàng.
Công thức tính CAR thường dựa trên tỷ lệ giữa vốn cố định (bao gồm vốn cổ phần và lợi ích không phân phối) và các tài sản rủi ro có trọng số. Hệ số CAR cao cho thấy ngân hàng có nền tảng tài chính vững chắc và có khả năng chịu đựng rủi ro tốt hơn. Trong kinh tế xã hội, việc duy trì một CAR ổn định và cao không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của khách hàng mà còn tăng cường sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng, giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng tài chính và đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu. Quy định về hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần 1.
Quy định về hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại theo hiệp ước Basel Vào thập niên 1980, hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đồng thời phát sinh ra những cuộc cạnh tranh bất bình đẳng giữa các ngân hàng. Do đó, nhằm ổn định, củng cố lại hoạt động ngân hàng quốc tế và tạo ra một cơ chế cạnh tranh lành mạnh, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập (BCBS). Năm 1988, Ủy ban quyết định ban hành một thoả thuận quốc tế về các tiêu chuẩn vốn tự có gọi là Hiệp ước vốn Basel I. Theo yêu cầu Hiệp ước này buộc các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ vốn bắt buộc trên tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi ro tối thiểu là 8% để bù bắp cho những rủi ro và những tổn thất có thể xảy ra (hay còn được gọi là “tỷ lệ Cook”).
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) theo Basel I được tính theo công thức: Trong đó, tổng vốn được tổng thành từ những loại vốn cấp 1 (các loại vốn chắc chắn có như vốn chủ sở hữu vĩnh viễn, lợi nhuận giữ lại, lợi ích thiểu số tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh), vốn cấp 2 (vốn có chất lượng thấp hơn như nguồn vốn tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng các tổn thất chung, đầu tư tài chính vào công ty con và tổ chức tài chính khác, vốn từ những công cụ nợ trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi hay công cụ nợ khác) và vốn cấp 3 (vốn có độ tin cậy thấp nhất như các khoản vay ngắn hạn). Đồng thời cũng yêu cầu tổng vốn cấp 2 và 3 không vượt quá vốn cấp 1. Tuy nhiên Basel I vẫn còn vài hạn chế mà trong đó chủ yếu chỉ tập trung vào một giải pháp là “yêu cầu vốn tối thiểu” mà chưa đề cập đến rủi ro thị trường cũng như rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Năm 2004, Ủy ban Basel lại ban hành bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực từ năm 2007.
Basel II chủ yếu dựa trên 3 trụ cột chính: 15 Trụ cột 1 liên quan đến việc duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc (CAR vẫn giữ mức tối thiểu 8% nhưng có sự thay đổi về hệ số rủi ro của các tài sản). Đồng thời cách tính cũng có sự thay đổi. Tỷ lệ an toàn vốn được xác định cụ thể như sau: Với yêu cầu một tỷ lệ 4% vốn cấp 1 (gồm cổ phần phổ thông và dự trữ được công bố) và 8% đối với vốn cấp 2 (tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, dự trữ không được công bố, nguồn vốn gia tăng từ trái phiếu chuyển đổi/cổ phiếu ưu đãi/nợ thứ cấp khác). Trụ cột 2-3 liên quan đến việc hoạch định các chính sách trong công tác giám sát, thanh tra và hoạt động liên quan đến việc công bố thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường.
Tuy không có nhiều tác động đến hệ số an toàn vốn nhưng quy định này đòi hỏi sự công khai minh bạch phù hợp đúng với thông lệ quốc tế. Vào thời điểm bắt đầu triển khai, Basel II có thể được xem là khung đánh giá rủi ro ngân hàng khá toàn diện. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 chứng tỏ Basel II còn khá nhiều nhược điểm, nó hoàn toàn chưa lường hết những rủi ro có thể xảy ra khi đối mặt với chu kỳ của một nền kinh tế, đặc biệt chưa chú trọng vào vấn đề thanh khoản dẫn đến việc phá sản của nhiều ngân hàng. Do đó, vào 12/09/2010 Uỷ ban Basel đã công bố Hiệp ước Basel III với các tiêuchuẩn mới.
Hệ số CAR tính theo Basel III so với Basel II mặc dù vẫn yêu cầu ở mức độ 8%, tuy nhiên tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được tăng lên: Tỷ lệ vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel III, đồng thời tỷ lệ vốn của cổ đông thường được tăng từ 2% lên 4%. Những tài sản “Có” vốn có vấn đề được loại trừ khỏi Vốn tự có như khoản đầu tư vượt quá giới hạn 15% vào các tổ chức tài chính. Ngoài ra, Basel III còn đưa ra tiêu chuẩn thanh khoản đối với các ngân hàng. Quy định này yêu cầu ngân hàng nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn.
Các mốc ban hành và công thức tính CAR Nguồn: Tổng hợp thông tin từ trang www. Quy định về hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Những chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn hoạt động lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam sau 11 năm kể từ khi Basel I được ban hành. Năm 1999, hệ số CAR đầu tiên được quy định tại Việt Nam theo Quyết định số 297/1999/QĐ - NHNN ngày 25/8/1999 ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng chính thức. Theo đó, Quyết định nêu rõ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh đầy đủ nội dung Basel I.
Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày 19/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng.