Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Dữ liệu và Mô hình nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan về Thanh khoản 2. Khái niệm về thanh khoản ngân hàng Về mặt tài sản, thanh khoản được định nghĩa là khả năng chuyển hóa thành tiền của tài sản và ngược lại, và được đo lường qua thời gian chuyển đổi và chi phí chuyển đổi.
Xét về ngân hàng, thanh khoản được hiểu là việc ngân hàng có thể thực hiện được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời như nhu cầu chi trả, rút tiền gửi, thanh toán, các nhu cầu giải ngân cho vay theo cam kết … Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn. Ở từng thời điểm khác nhau, Basel đưa ra những khái niệm thanh khoản khác nhau, nhưng nhìn chung đều định nghĩa thanh khoản là khả năng tăng quỹ tài sản để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn với chi phí chấp nhận được. Tác giả Trương Quang Thông (2010) qua giáo trình Quản trị NHTM, định nghĩa rằng: “Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể. Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lí để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng”.
Tác giả Duttweiler (2009) định nghĩa thanh khoản là sự chuyển đổi một tài sản cụ thể thành tiền mặt một cách dễ dàng, và khi muốn chuyển đổi các tài sản này thành tiền thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. 6 Thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như là khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng một cách tức thời và ngân hàng có thể giải ngân các khoản tín dụng theo thoả thuận. Có thể chia thanh khoản ngân hàng thành 2 loại: thanh khoản nhân tạo và thanh khoản tự nhiên. Thanh khoản nhân tạo được hình thành từ khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Thanh khoản tự nhiên được tạo ra từ tài sản của ngân hàng với thời gian đáo hạn theo quy định. Khái niệm về rủi ro thanh khoản Theo Duttweiler (2009), NHTM đối mặt với rủi ro thanh khoản khi không có khả năng thanh toán tại một thời điểm bất kỳ, hoặc ngân hàng phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ. Năm 2006, Ủy ban Basel chia rủi ro thanh khoản thành hai loại: “rủi ro thanh khoản thị trường (market liquidity risk) và rủi ro thanh khoản nguồn vốn (funding liquidity risk). Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro khi ngân hàng không thể bán tài sản trên thị trường trong thời gian ngắn với chi phí thấp.
Rủi ro thanh khoản nguồn vốn xảy ra khi ngân hàng không đủ tiền, không thể huy động nguồn vốn mới để thực hiện các nghĩa vụ chi trả khi đến hạn”. Tóm lại, rủi ro thanh khoản xảy ra khi NHTM không có khả năng chi trả cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc đáp ứng được nhưng với chi phí quá cao. Hay ngân hàng thương mại đối mặt với rủi ro thanh khoản khi không có khả năng thực hiện nghĩa vụ chi trả do không đủ tiền dự trữ, hoặc chuyển đổi các tài sản thành tiền mặt không kịp hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu chi trả theo thoả thuận. Vai trò của thanh khoản Đối với doanh nghiệp: việc đánh giá tính thanh khoản có vai trò quan trọng trong quản trị tài chính.
Cụ thể: - Phản ánh thanh khoản của công ty, giúp ban lãnh đạo có thể nhận diện các vấn đề tiềm ẩn và đưa ra giải pháp xử lý phù hợp. Từ đó, đảm bảo các khoản vay 7 được thanh toán đúng theo thời hạn, giúp doanh nghiệp giữ vững niềm tin với các cổ đông và đối tác. - Ban điều hành doanh nghiệp sẽ có các phương án quản trị phù hợp, giúp tối ưu nguồn tài chính, tăng khả năng thanh khoản. Từ đó giúp gia tăng dòng tiền lành mạnh và linh hoạt, mở rộng cơ hội đầu tư và chủ động thu hẹp khi tình hình trở nên khó khăn.
- Thông qua việc đưa các phương án quản trị phù hợp từ đội ngũ lãnh đạo, có thể giúp doanh nghiệp tăng tính thanh khoản và tối ưu nguồn tài chính. Khi tình hình doanh nghiệp trở nên khó khăn, việc nhận biết tính thanh khoản này sẽ giúp tiết kiệm và tạo cơ hội để phát triển nhằm nâng cao dòng tiền lành mạnh. Đối với ngân hàng, các chủ nợ và nhà đầu tư của doanh nghiệp Đối với nhà đầu tư, ngân hàng và chủ nợ của doanh nghiệp, đánh giá tính thanh khoản có các ý nghĩa nhất định như sau: - Đánh giá được khả năng thanh khoản của một đơn vị tổ chức sẽ giúp các bên cho vay, đầu tư có thể lường đón được các rủi ro về mặt thanh khoản của doanh nghiệp, từ đó ra quyết định đầu tư kinh doanh hợp lý. - Nếu doanh nghiệp đang có khoản nợ với ngân hàng, phải thanh lý tài sản để đáp ứng chi trả cho khoản nợ đó, Ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp bằng cách cho vay thông qua hình thức thế chấp tài sản đó.
- Dựa vào chỉ số thanh khoản này mà các nhà đầu tư có thể ra quyết định đầu tư hợp lý. Cung, cầu và trạng thái thanh khoản 2. Cung thanh khoản Cung thanh khoản được định nghĩa là những nguồn cung cấp vốn cho ngân hàng để đáp ứng cầu thanh khoản, làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, và thường là những khoản sẵn có hoặc có thể có trong ngắn hạn của NHTM, bao gồm: 8 Huy động tiền gửi: chiếm tỷ trọng lớn nhất và cũng dễ tạo ra nhất trong nguồn cung thanh khoản, được xem là nguồn cung quan trọng nhất. Các khoản cho vay được hoàn trả: với khoản tiền được hoàn trả từ việc cho vay này, NHTM có thể dự trữ hoặc tái tục đầu tư kinh doanh.
Thu nhập từ hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ: thời gian trước, thu nhập từ hoạt động dịch vụ thường chiểm tỷ trọng thấp và ít được quan tâm, tuy nhiên hiện nay với sự hội nhập và phát triển của công nghệ thông tin thì thu nhập từ hoạt động dịch vụ đã được chú trọng hơn và được các NHTM định hướng quan tâm phát triển, xem đây là một trong những nguồn thu nhập quan trọng của ngân hàng. Tiền vay trên thị trường tiền tệ: gồm vay liên ngân hàng và vay tái chiết khấu từ NHTW, đây là những nguồn cung tạm thời cấp bách để ứng phó với cầu thanh khoản. Tiền bán tài sản: được thực hiện để đáp ứng thanh khoản khi không thể sử dụng các phương án nêu trên, ngân hàng thương mại sẽ bán tài sản thanh khoản cao đến tài sản thanh khoản thấp hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Cầu thanh khoản Cầu thanh khoản là các tác động làm giảm quỹ của ngân hàng để đáp ứng các nghĩa vụ chi trả trong quá trình hoạt động, bao gồm: - Rút tiền gửi của khách hàng: thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cầu thanh khoản, đây là nhu cầu thường xuyên và không cố định, đặc biệt đối với khoản mục tiền gửi không kỳ hạn.
Ngân hàng sẽ đối diện với rủi ro thanh khoản khi nhu cầu rút tiền của khách hàng đột ngột tăng cao, đặc biệt với những số tiền lớn. - Các khoản cho vay phát sinh: thu nhập từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn thu của ngân hàng, do đó những khoản vay mới hoặc những cam kết cho vay cũng thường xuyên phát sinh. - Thanh toán các khoản vay phải trả: là việc ngân hàng thương mại thanh toán các khoản đi vay trên thị trường tiền tệ. 9 - Trả cổ tức cho cổ đông.
- Thanh toán các khoản chi phí hoạt động: bao gồm chi phí lương, thưởng cho người lao động, thuê mặt bằng. Trạng thái thanh khoản Trạng thái thanh khoản ròng NPL (Net Liquidity Position) của ngân hàng được tính toán theo công thức: NPL = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản Nếu trạng thái thanh khoản ròng > 0, nghĩa là ngân hàng đang thặng dư thanh khoản. Điều này cho thấy thanh khoản của ngân hàng hiện tại đang rất tốt nhưng mặt khác cũng cho thấy khả năng sinh lời của tài sản chưa được khai thác hết, có thể do các nguyên nhân chủ quan như: dữ trữ thanh khoản được chủ động tăng lên, hay việc đầu tư của ngân hàng chưa hợp lý, hay nguyên nhân từ những yếu tố khách quan như: ngân hàng không có nhiều cơ hội đầu tư do thị trường nhiều bất ổn, và do nguồn vốn tăng trưởng nhanh…. Phần thặng dư thanh khoản này trước khi sử dụng để đáp ứng thanh khoản trong tương lai cần được đem đi đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh.
Trường hợp trạng thái thanh khoản ròng < 0, nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái thâm hụt thanh khoản, điều này sẽ dẫn đến các tác động xấu cho ngân hàng, thâm hụt nhẹ gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động, còn mức độ thâm hụt lớn sẽ gây ra hậu quả nặng nề hơn như ngân hàng bị mất cơ hội kinh doanh, khách hàng chuyển sang TCTD khác, làm giảm niềm tin công chúng, mất thị trường …. Nhà lãnh đạo ngân hàng cần có các phương án bù đắp thanh khoản, ví dụ như sử dụng dự trữ bắt buộc, vay tái chiết khấu NHTW, vay vốn liên ngân hàng, bán tài sản kém thanh khoản, … Nếu trạng thái thanh khoản ròng = 0, nghĩa là ngân hàng đang cân bằng thanh khoản, đây cũng là mục tiêu của các nhà điều hành ngân hàng, nhưng trên thực tế rất khó xảy ra. Đo lường thanh khoản Vodova (2011) sử dụng hai phương pháp để đo lường thanh khoản: bằng các tỷ lệ thanh khoản và bằng khe hở thanh khoản. Đo lường bằng các tỷ lệ thanh khoản: các chỉ số về thanh khoản được tính toán từ số liệu trong bảng cân đối kế toán, và dùng làm cơ sở dự đoán khả năng thanh khoản sắp tới.