Chương 1: Tổng quan về đo lường rủi ro và mô hình VaR và CVaR. Chương 2: Ứng dụng mô hình VaR và CVaR đẻ/đo lường rủi ro các cổ phiếu ngành ngân hàng được niêm yết trên Sở giao điến chứầg khoán Hồ Chí Minh Chương 3: Thảo luận kết quả và đề xuất giải páp PHAN 3 —- KÉT LUẬN PHÀN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHUONG 1: TONG QUAN VE DO LUONG RUI RO VA MO HINH VaRVA CVaR 1.1 Tổng quan về rủi ro danh mục đầu tư 1.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro là thuật ngữ rất đa dạng và phong phú, có nhiều cách.đẻẩjï›nghĩa về rủi ro nhưng có thể quy vào 2 trường phái: Trường phái truyền thống ý rèn phái trung hòa. Theo cách hiểu truyền thống, rủi ro là điều không lành, không tốt, hay trong lĩnh vực kinh doanh rủi ro là sự sụt giảm tài sản hay rủi ro là những Bat trắc có thể xảy ra và làm tổn hại đến doanh nghiệp. Theo trường phái trung hòa, rủi ro là sự không €hắc han hay là sự bất ồn.
Theo Frank Knight (1921) “Rui ro 1a sy bất trắc có tHổnđo lường được”, theo Allan Willett (1901) “ Rủi ro là sự bắt trắc có thể liên quan®đến việc xuất hiện những biến có không mong đợi”. Tóm lại, theo trường phái trung hôÖa/ Túi ro có tính 2 mặt: tích cực và tiêu cực, và rủi ro có thể đo lường được. Theo cách định nghĩa rộng hơn thì fiw là sự không chắc chắn đối với các kết quả trong tương lai. Trong thị trườngchÌằg khoán, khi ta nói về rúi ro của một cổ phiếu hay của một trái phiếu đó là ếự không chắc chắn của giá trị trong tương lai của một khoản đầu tư sau một khoảø#*thồ gian.
Rủi ro thị trường chứng khoán đo lường bằng sự biến động của lợi nhuận`Ìài:sẵn.2 Phân loại rủi ro Rui ro có nhiềw Sách đề phân loại, trên thị trường đầu tư ta có thể phân thành 2 loại: rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rai ro hệ thống Rui ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ thị trường hoặc hầu hết các lôạÌ chứng khoán, là rủi ro nằm ngoài công ty, không kiểm soát được như GDP, lam phat, biến động tỷ giá hối đoái, lãi suất. Rui ro hệ thống được chia lam 3 loai:aritifro thi trường, rủi ro lãi suất và rủi ro sức mua. Rủi ro thị trường phản ánh sự không chắc chắn về giá của tài sảnÊKWñ»nố được ban (Moorad Choudhry, 2006) nó xuất hiện do có những phản ứng của nhà đầu tư với các sự kiện hữu hình về kinh tế, chính trị, xã hội và các yếu tố vô lầnh như tâm lí của thị trường.
Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hìnl và tâm lý của nhà đầu tư. Những sụt giảm đầu tiên của thị trường và tâm lý sợ Ềãi của nhà đầu tư và họ sẽ có thoát vốn và kéo theo hiệu ứng đây chuyền làm giá êhứng“khoán giảm xuống thấp hơn giá trị cơ sở. Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh đo tác động của ầw-tñay đổi lãi suất (Moorad Choudhry, 2006) dẫn đến sự biến động của giá trị eHứững/khoán. Sự thay đổi của lãi suất phi rủi ro là trái phiếu chính phủ dẫn đến sự thầy đổi lãi suất kỳ vọng của cổ phiếu và trái phiếu.
Rui ro sire mua là tác động của lạm phဠđến khoản đầu tư. Lợi nhuận nhà đầu tư nhận được nên được tính trên lãi suất/ñực sat khi điều chỉnh lạm phát. Rai ro phi hé thống Rui ro phi hệ thống hay cònđừợe“gợi là rủi ro có thể phân tán bằng cách đa dang hóa là loại rủi ro chỉ tác động, tiến một hoặc một nhóm chứng khoán nào đó. Rủi ro phi hệ thống được chia làm Bài loại chính là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Rủi ro kinh doanh làfủi ro do tình trạng hoạt động của công ty như lợi nhuận trong năm thấp hơn lợi nhuậh›dự kiến. Xét theo phạm vi và không gian, rủi ro kinh doanh có thé chia làní rủi tồ:bên ngoài và rủi ro nội tại. Rủi ro nội tại là rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của công ty do các ảnh hưởng của các quyết định của các quản lý công ty. Rủi ro bên ngoài là rủi ro phụ thuộc và môi trường kinh doanh cu the của công ty như chỉ phí vốn vay, thuế và chu kỳ kinh doanh.
Rúi ro tài chính là rủi ro liên quan đến nguồn tài trợ vốn hay nói cáềh;Khác là liên quan đến đòn bẩy tài chính. Nếu công ty đi vay sé tao ra nghia vu phaiewa lai va gốc khi đáo han bat kể hoạt động kinh doanh của công ty ra sao. Rủi ro4àŸ clínlÝ có thể bằng không nếu công ty không vay nợ. Khi công ty sử dung don bay tài chính sẽ làm tăng mức độ biến động thu nhập của cổ đông thường.
Tóm lại, trong thị trường chứng khoán có rất nhiều loại rủŸ to, tuy nhiên đề tài này tập trung nghiên cứu rủi ro thị trường, cụ thể hơn là việt ứng Gung m6 hinh VaR và CVaR để đo lường rủi ro về sự biến động của giá đóng đữa eấấ cỗ phiếu ngân hàng.3 Tổng quan về đo lường rai ro Trong quản trị rủi ro tài chính hiện đại nếu chỉ nHận biệt rủi ro bằng các phương pháp định tính là chưa đủ, mà quan trọng hơn là phất phát triền các mô hình lượng hóa rủi ro để giúp các nhà đầu tư biết được mức độ rủi rởŠvà xác suất xảy ra đề ra quyết định chính xác. Rủi ro là sự khác biệt giữa gid tri thudté Va gia tri ky vong, trong đầu tư rủi ro thể hiện ở sự khác nhau giữa tỷ suất lợi nhuậtực/tế và tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng và được đo lường bằng phương sai hoặc độ lệch Èhuản. Phương sai: Độ lệch chuẩn: Trong đó: a, 1a độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi danh mục w¡, w; là tỷ trọng của tài sản I,j trong danh mục ø; là độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi tài sản ¡ Coy;; là hiệp phương sai của tỷ suất sinh lợi tài sản ¡ và j Hiệp phương sai Cov;; là độ đo sự biến thiên cùng nhau giữa cô phiếu ¡ và j, nói cách khác hiệp phương sai là thước đo mối tương quan giữa 2 cổ phiếu: Công thức tính hiệp phương sai là: Cov¡;= /¡,¡Ø¡Ø; Trong đó ø¡,; là hệ số tương quan, thể hiện mối quan hệ tUyến tín giữa tỷ suất sinh lợi tài sản ¡ và j. Hệ số tương quan có giá trị nằm trong khoằn.[-1;1], nếu ø có giá trị dương thê hiện mối quan hệ tuyến tính thuận giữa 2 tài sấn, và nếu ø có giá trị âm thể hiện mối quan hệ tuyến tính nghịch, và nếu ø = 0 hai tai San độc lập với nhau.
Trong quá trình phát triển đã có nhiều phương,pháp, mô hình đo lường rủi ro được đề xuất và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Năm Tác giả Nội dung 1938 Macaulay Phương phấP đánh giá rủi ro trái phiêu, giúp tính toán thoi gian Roẩn vốn trung bình trái phiếu 1952 Markowitz Mô hìnlÊkỳ vong và phương sai. 1964 Wiliam Sharpe | M6 hinhdinh gia tai san von CAPM. Trén co sở áp dumgyphuong phap trung bình và phuong sai (Mean — Variance) kết hợp với giả thiết cân bằng thị trường tai chính CAPM được xây dựng và được xem là một mô hình quan trọng trong định giá tải sản.
1993 Giá trị rủi ro — VaR (Value at Risk) Năm 1993, các nhà khoa học làm viéc 6 ngén hang JPMorgan Chase dua trén“ly thuyết xác suất thống kê đã phát triển phuong phdp do lvong rii ro VaR (Walu@eat Risk) va cho dén ngay nay VaR duge su dung kha phé biến trong các ngân hang Va trong quản trị rủi ro. VaR của một danh mục hay tài sản thể hiện mức độ tồn thẩÈlớn nhất trong một khoảng thời gian cụ thể với độ tin cậy nhất định trong điềú kiện thị trường hoạt động bình thường. Tuy được áp dụng rộng rãi nhung VaR cones mét sé hạn chế nhất định, đầu tiên VaR không tuân theo quy tắc đa dạfb;ñóa đầnh mục và VaR chỉ đưa ra được câu trả lời khoản lỗ tối đa là bao nhiêu trong pharMdn tinh huống, và không trả lời được những gì diễn ra trong phần nhỏ còn lậi, nhất là những tình huống hiếm gặp cũng có khả năng xáy ra và đề lại tốn thất nghiêm trọng. Dé giải quyết vấn đề đó, mô hình CVaR (Conditional Value at Risk) hay cOhygoi là ES ( Expected Shortfall) được đưa ra.
Mô hình CVaR cho biết giá trị kỳ vọng;của những ton thất vượt quá VaR với độ tin cậy nhất định.2 Tổng quan về mô hình VaR và CVaR 1.1 Mô hình VaR 1.1 Khái niệm Giá trị rủi ro của một danh mục hấy củaằnột tài sản là mức độ tổn thất tối đa có thể xảy ra đối với một danh mục hay một/fầi.sản trong một khoảng thời gian t với độ tin cậy (I-ơ)100%, ký hiệu là VaR,„, ýä đừợc xác định về mặt toán học như sau: (X< VaR.„) = œ, với X là hàm lợi nhuậf tRong khoảng thời gian t của danh muc va 0 < a < 1. Nếu nhà đầu tư nắm oft đãñh mục sau khoảng thời gian t với độ tin cậy (I- a)100% thi tén thất lớn nñấỀMàZVaR,„ trong điều kiện thị trường hoạt động bình thường. Như vậy với VäR¿ s„ ®100 triệu đồng có nghĩa là Việc nắm giữ danh mục sau khoảng thời gian 1 ngày vỡ? độ tin cậy là 95% thì khả năng tổn thất lớn nhất là 100 triệu đồng và với xác suất 5% mức lỗ của danh mục vượt quá 100 triệu đồng.2 Đặc điểm cúa VaR Tùy vào từng trường hợp và mục đích cụ thể VaR được tinh theo ngăŸtuầ; hay tháng, đối với các tài sản có tính lỏng cao như tiền mặt thì ngân hànŠđo lường VaR theo ngày hay đối với các đanh mục có sự biến động cao thì nén tifhyVaR trong khoảng thời gian ngắn, còn với các tài sản có độ biến động thấp có thê; đồ ]liờấp VaR trong khoảng thời gian dài hơn. Độ tin cậy là một thông số quan trọng khi ước tính VaR vàsñðsphụ thuộc vào từng loại tài sản và hệ thống quản trị hay phụ thuộc vào từng nIằ»đầu tư.
Độ tin cậy thường được dùng là 99% hoặc 95%, với độ tin cậy càng cao thì giả tị rủi ro càng lớn.3 Các điều kiện cần thiết để sử dụng VaR e VaR được xây dựng dựa trên giả định thị trườnế hiệu quả, tức là giá của cổ phiếu phản ánh đúng những thông tin trên thị trưốñg, ©_ Trong khoảng thời gian đo lường VaR các,yéfT6 tƒ tẨrờng không thay đổi hoặc ít thay đồi e Để ước lượng VaR chính xác cần phái có-dữliệu lịch sử đủ lớn 1.