Tổng quan nghiên cứu

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc sở hữu vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng nhờ đường biên giới trên bộ dài khoảng 1.350 km đi qua 6 tỉnh của Việt Nam và 2 tỉnh của Trung Quốc cùng hệ thống 25 cửa khẩu thông thương sôi động. Kể từ khi hai quốc gia bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1991 với quy mô thương mại song phương ban đầu chỉ đạt hơn 30 triệu USD, kim ngạch trao đổi hàng hóa đã có bước nhảy vọt ấn tượng lên 22,5 tỷ USD vào năm 2009, đạt 27,328 tỷ USD vào năm 2010 và chạm mốc 58,64 tỷ USD vào năm 2014. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng thương mại nhanh chóng đi kèm với thách thức lớn về sự mất cân đối cán cân thanh toán khi mức nhập siêu của Việt Nam từ thị trường Trung Quốc liên tục nới rộng, tăng từ 12,5 tỷ USD vào năm 2010 lên mức kỷ lục 32,3 tỷ USD vào năm 2015.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã thực trạng thâm hụt thương mại kéo dài, phân tích cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu bất đối xứng và đánh giá tác động đa chiều của luồng hàng hóa Trung Quốc đối với nền kinh tế Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình bao gồm việc hệ thống hóa toàn diện bức tranh trao đổi thương mại song phương trong giai đoạn 2010 - 2016, nhận diện rõ những điểm nghẽn về mặt thể chế, chất lượng hàng hóa và phương thức biên mậu. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và đồng bộ nhằm thu hẹp khoảng cách nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách ngoại thương, bảo đảm an ninh kinh tế và thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế song phương phát triển bền vững, hài hòa lợi ích giữa hai quốc gia láng giềng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai trụ cột lý thuyết kinh tế quốc tế kinh điển là Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và Lý thuyết Tỷ lệ yếu tố sản xuất Heckscher - Ohlin (H-O). Lý thuyết Lợi thế so sánh chỉ ra rằng mỗi quốc gia sẽ tối ưu hóa lợi ích thương mại khi tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có chi phí cơ hội thấp hơn, đồng thời nhập khẩu những sản phẩm có bất lợi thế tương đối. Trong khi đó, mô hình Heckscher - Ohlin giải thích cơ cấu ngoại thương dựa trên mức độ dồi dào của các yếu tố đầu vào như lao động, tài nguyên thiên nhiên, tư bản và công nghệ. Khi áp dụng vào thực tế quan hệ Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2010 - 2016, khung lý thuyết này làm rõ nguyên nhân Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nông sản thô và khoáng sản dựa trên lợi thế tài nguyên, nhưng lại nhập khẩu lượng lớn máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ từ Trung Quốc.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và Phân công lao động quốc tế nhằm phân tích vai trò mắt xích của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực. Bốn khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Cán cân thương mại phản ánh mức chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu; Nhập siêu biểu thị trạng thái thâm hụt ngoại thương; Thương mại biên mậu chỉ hoạt động trao đổi hàng hóa qua hệ thống 25 cửa khẩu biên giới; và Cơ cấu hàng hóa phản ánh tỷ trọng giữa nhóm hàng thô sơ chế với nhóm hàng chế biến công nghệ cao.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập và xử lý bộ dữ liệu thứ cấp chuỗi thời gian kéo dài 7 năm liên tục từ năm 2010 đến năm 2016. Nguồn dữ liệu thống kê chính thống được tổng hợp từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, kết hợp cùng các báo cáo kinh tế thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và cơ sở dữ liệu thương mại Liên Hợp Quốc (UN Comtrade).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ kim ngạch xuất nhập khẩu chính thức qua 25 cửa khẩu biên giới và hệ thống cảng biển quốc tế của Việt Nam với Trung Quốc. Phương pháp chọn mẫu theo chuỗi thời gian toàn phần được kết hợp với phương pháp chọn mẫu điển hình cho 5 nhóm ngành hàng trọng điểm chiếm tỷ trọng trên 60% tổng kim ngạch song phương, bao gồm dệt may, da giày, điện tử - linh kiện, sắt thép và nông thủy sản. Luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh đối chiếu và phân tích cơ cấu định lượng. Việc lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi thời gian và so sánh tỷ trọng cơ cấu là hoàn toàn phù hợp vì phương pháp này cho phép nhận diện chính xác xu hướng biến động thực tế của thâm hụt thương mại, bóc tách tỷ lệ tăng trưởng nhập khẩu bình quân 32,10%/năm so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 21,20%/năm, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về sự thay đổi của cấu trúc ngoại thương mà các mô hình định tính thuần túy không thể đo lường đầy đủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc duy trì tốc độ mở rộng nhanh chóng với mức tăng trưởng bình quân đạt xấp xỉ 25%/năm trong giai đoạn 2010 - 2016. Kim ngạch trao đổi hai chiều tăng từ 27,9 tỷ USD năm 2010 lên 71,5 tỷ USD vào năm 2016. Năm 2016, Trung Quốc củng cố vững chắc vị thế là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam khi kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này đạt gần 49,9 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 28,7% tổng giá trị nhập khẩu của cả nước, vượt xa các đối tác đứng sau như Hàn Quốc với 32,03 tỷ USD chiếm 18,4% và Nhật Bản với 15,03 tỷ USD chiếm 8,6%.

Thứ hai, tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc gia tăng với tốc độ đáng báo động và xác lập đỉnh kỷ lục mới. Mức thâm hụt thương mại đã tăng liên tục từ 12,5 tỷ USD năm 2010 lên 28,8 tỷ USD năm 2014 và chạm mốc kỷ lục 32,3 tỷ USD vào năm 2015, trước khi điều chỉnh nhẹ về mức 27,9 tỷ USD năm 2016. So với mức nhập siêu 0,19 tỷ USD vào năm 2001, con số thâm hụt năm 2015 đã tăng gấp hơn 170 lần. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu bình quân hàng năm từ Trung Quốc đạt 32,10%, cao gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này vốn chỉ đạt 21,20%.

Thứ ba, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu bộc lộ sự bất đối xứng nghiêm trọng. Việt Nam rơi vào vị thế phụ thuộc sâu sắc vào nguồn cung ứng nguyên liệu đầu vào và tư liệu sản xuất từ Trung Quốc. Trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nông sản thô, thủy sản, cao su thiên nhiên và khoáng sản chưa qua chế biến sâu, thì hơn 60% giá trị hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc lại là máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, hóa chất và sắt thép. Tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng mạnh từ 9,94% năm 2001 lên 23,0% năm 2011 và đạt 28,78% vào năm 2016.

Thảo luận kết quả

Diễn biến thực tế của cán cân thương mại có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ dạng cột kết hợp đường biểu diễn (combo chart) thể hiện tương quan xuất khẩu, nhập khẩu và mức thâm hụt qua từng năm từ 2010 đến 2016. Bên cạnh đó, biểu đồ tròn phân tích cơ cấu thị phần nhập khẩu năm 2016 làm nổi bật vị thế áp đảo của khu vực Châu Á chiếm 80,8% (140,76 tỷ USD), trong đó riêng Trung Quốc chiếm 28,7%.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nhập siêu nặng nề bắt nguồn từ sự phát triển yếu ớt của ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước, buộc các doanh nghiệp dệt may, da giày và điện tử của Việt Nam phải nhập khẩu nguyên phụ liệu trung gian từ Trung Quốc để gia công xuất khẩu sang các thị trường phương Tây như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU). Lợi thế về vị trí địa lý giáp ranh, chi phí vận chuyển đường bộ và đường biển thấp, cùng sự tương thích về giá thành sản phẩm đã khiến doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nguồn hàng Trung Quốc.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng và củng cố vững chắc nhận định trong các công trình học thuật trước đây của Ning Zhang (2012) cũng như nhóm nghiên cứu của Bùi Thị Minh Nguyệt (2016) về tính bất cân xứng thương mại. Tuy nhiên, luận văn đã mở rộng đóng góp khoa học khi chỉ ra rằng việc Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc không đi kèm với việc chuyển giao công nghệ nguồn hiện đại mà chủ yếu là nhập khẩu công nghệ trung bình hoặc thấp, tiềm ẩn nguy cơ biến nền kinh tế thành bãi tập kết thiết bị lạc hậu và gia tăng rủi ro tổn thương trước các biến động địa chính trị khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thể chế và hàng rào kỹ thuật thương mại: Bộ Công Thương cần chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Tổng cục Hải quan thiết lập hệ thống rào cản kỹ thuật (TBT) và các biện pháp vệ sinh an toàn dịch tễ (SPS) nghiêm ngặt đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Mục tiêu trọng tâm là kiểm soát chất lượng, ngăn chặn máy móc công nghệ cũ kỹ tiêu tốn năng lượng và bảo vệ môi trường, phấn đấu kiềm chế tốc độ tăng trưởng nhập siêu từ Trung Quốc xuống dưới mức 10%/năm trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ hai, tái cơ cấu hoạt động xuất khẩu và chuyển đổi từ tiểu ngạch sang chính ngạch: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Ngoại giao thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường chính ngạch cho các mặt hàng trái cây, thủy sản và nông sản chế biến của Việt Nam vào sâu các tỉnh nội địa Trung Quốc. Mục tiêu đề ra là đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản chế biến sâu sang thị trường này từ 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2018 - 2025, từng bước xóa bỏ phương thức buôn bán tiểu ngạch nhiều rủi ro.

Thứ ba, phát triển chuỗi công nghiệp hỗ trợ nội địa để giảm phụ thuộc nguồn cung: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành gói chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ liệu dệt may và cơ khí chế tạo. Mục tiêu chiến lược là nâng tỷ lệ nội địa hóa của các ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn từ mức 30% - 35% giai đoạn 2010 - 2016 lên mức 55% - 60% vào năm 2025.

Thứ tư, siết chặt kiểm soát biên giới và chống gian lận xuất xứ: Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia, Bộ Quốc phòng (Bộ đội Biên phòng) và Tổng cục Quản lý Thị trường cần tăng cường thanh tra, kiểm soát liên ngành tại toàn bộ 25 cửa khẩu đường bộ nhằm triệt phá các đường dây buôn lậu, gian lận thương mại và giả mạo nhãn mác xuất xứ Việt Nam để trung chuyển sang nước thứ ba, đặt mục tiêu giảm thiểu 80% số vụ vi phạm thương mại biên mậu đến năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm và khung phân tích chuyên sâu phục vụ công tác xây dựng chiến lược đàm phán hiệp định thương mại song phương, rà soát cam kết biểu thuế và thiết lập cơ chế giám sát cán cân thanh toán quốc gia.

Nhóm thứ hai là cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt là các hiệp hội ngành hàng dệt may, da giày, thủy hải sản và cơ khí điện tử. Nghiên cứu mang lại cái nhìn toàn cảnh về chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, giúp các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng phương án đa dạng hóa thị trường đối tác, phòng ngừa rủi ro đứt gãy nguồn cung và xây dựng lộ trình chuyển đổi hình thức thương mại tiểu ngạch sang hợp đồng chính ngạch.

Nhóm thứ ba gồm các giảng viên, chuyên gia và nhà nghiên cứu tại các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, Kinh tế Đối ngoại và Thương mại Quốc tế. Tài liệu đóng vai trò là tài liệu tham khảo chất lượng cao, cung cấp phương pháp tiếp cận đa chiều về quan hệ kinh tế địa chính trị giữa hai quốc gia láng giềng.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, sinh viên ngành Kinh tế Quốc tế và Quốc tế học. Luận văn là hình mẫu tham khảo chuẩn mực về cấu trúc nghiên cứu học thuật, phương pháp thu thập và xử lý chuỗi số liệu hải quan thực tế từ 2010 đến 2016.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc tăng vọt trong giai đoạn 2010 - 2016 là gì? Tình trạng nhập siêu tăng mạnh từ 12,5 tỷ USD năm 2010 lên đỉnh điểm 32,3 tỷ USD năm 2015 xuất phát từ việc các ngành sản xuất xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như dệt may, da giày và điện tử phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu trung gian giá rẻ từ Trung Quốc, trong khi nền công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất.

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc có những đặc trưng cơ bản nào? Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc mang tính đơn điệu khi hơn 60% giá trị tập trung vào nhóm hàng nông sản thô, khoáng sản, cao su thiên nhiên và sản phẩm gia công sơ cấp có giá trị gia tăng thấp. Do đó, tổng giá trị xuất khẩu năm 2016 chỉ đạt 21,8 tỷ USD, hoàn toàn lép vế trước mức nhập khẩu 49,7 tỷ USD từ đối tác.

Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Trung Quốc tác động như thế nào đến quan hệ thương mại song phương? Hiệp định này đã cắt giảm sâu hàng rào thuế quan, tạo cú hích giúp kim ngạch song phương tăng trưởng bình quân khoảng 25%/năm. Tuy nhiên, việc gỡ bỏ thuế quan nhập khẩu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho dòng hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc thâm nhập sâu vào thị trường nội địa, chiếm tới 28,78% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam năm 2016.

Hoạt động thương mại biên mậu qua các cửa khẩu biên giới mang lại cơ hội và rủi ro gì cho Việt Nam? Thương mại biên giới qua hệ thống 25 cửa khẩu tạo đầu ra nhanh chóng cho nông sản mùa vụ và tạo việc làm cho cư dân biên địa. Dù vậy, phương thức này tiềm ẩn rủi ro lớn về tình trạng ép giá, tắc nghẽn thông quan tại cửa khẩu và nguy cơ buôn lậu, đòi hỏi phải đẩy nhanh lộ trình chuẩn hóa xuất khẩu chính ngạch.

Giải pháp then chốt nào giúp Việt Nam từng bước cân bằng cán cân thương mại với Trung Quốc trong dài hạn? Giải pháp mang tính quyết định là tập trung nguồn lực phát triển mạnh mạng lưới công nghiệp hỗ trợ nội địa nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 55% - 60% vào năm 2025, kết hợp với việc kiểm soát nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chất lượng hàng nhập khẩu và chuẩn hóa quy trình xuất khẩu nông sản chính ngạch sang Trung Quốc.

Kết luận

  • Kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc mở rộng vượt bậc từ 27,328 tỷ USD năm 2010 lên 71,5 tỷ USD năm 2016 với tốc độ tăng trưởng bình quân xấp xỉ 25%/năm.
  • Thâm hụt thương mại của Việt Nam gia tăng nghiêm trọng, đạt đỉnh lịch sử 32,3 tỷ USD vào năm 2015 và đưa tổng mức nhập siêu giai đoạn này tăng gấp hơn 170 lần so với năm 2001.
  • Cơ cấu ngoại thương mang tính bất đối xứng sâu sắc khi Việt Nam nhập khẩu tới 28,7% tư liệu sản xuất, máy móc từ Trung Quốc và chỉ xuất khẩu chủ yếu nông khoáng sản thô.
  • Nghiên cứu đóng góp hệ thống luận cứ thực nghiệm toàn diện về mối quan hệ ngoại thương và đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược về thể chế, công nghiệp hỗ trợ, kiểm soát biên mậu và thị trường.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung nâng cao năng lực nội sinh, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và đẩy mạnh xuất khẩu chính ngạch để bảo đảm cân bằng cán cân thương mại bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp quan tâm đến việc tối ưu hóa chiến lược ngoại thương hãy tiếp tục khai thác các phát hiện chuyên sâu từ công trình luận văn này để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản trị và hoạch định chính sách kinh tế.