CHƯƠNG 1: ĐẶT VAN DE 1. Giới thiệu chung Kế từ khi Việt Nam mở cửa nên kinh tế kêu gọi dau tư nước ngoài, Việt Nam ky rất nhiều hiệp định thương mại như: gia nhập cộng đồng kinh tế Đông Nam Á năm 1996 (AFTA nay được đổi thành AEC), gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO tro thành thành viên chính thức từ Ø7/11/2006. Năm 2015 là năm đánh dau bước ngoặc quan trọng đối với Việt Nam khi ký tới bốn hiệp định thương mại với EU, Hàn Quốc, liên minh kinh tế A —Au (EEC) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Điều này góp phan thu hút vốn dau tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) được mở rộng vì thị trường Việt Nam là một thị trường mới, đầy tiém năng hứa hẹn nhiều bước phát triển vượt bật trong tương lai.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê ngày 21/8/2017, tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam từ 1998 đến 2016 có sự tăng trưởng đáng kể, trong đó lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ lệ 68% giá trị đầu tư được thé hiện qua bảng sau: GIAI ĐOẠN 1998-2016 80.900 7500 ti 0a 2000 40,000 49,000 - 1500 30,000 1000 20,000 500 10,000 E l - ve eee | SoS ws BS 2k Ss es 6S 2 eS SS 2 22a N. EB Ss , SSFRFRFAFSRSRSESSSESSESSESSESSESBSBSSSE TA HH rorroorerrrrrr—rrereee se long von ciãngg ký (trJSƠO) ——Téng von thuc bien [tr USD) - SỐ đự Án Nguồn: Tổng cục Thống kê Hình 1. 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1998-2016 (Tổng cục thống kê, 2017) HVTH: Tran Ngọc Anh — MSHV: 7140091 Trang 8 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Nguyễn Anh Thư TT Nganh kinh té Số dựán(dựán) Tổng vốn đăng ký (Triệu USD) Co cấu (%) TỔNG SỐ 22. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 522 3.573,8 122 2 (tông nghiệp và xây dung 13.2 (ông nghiệp chế biến, chế tạo 11.717,6 58,81 23 cong plousel stony eg 108 12.3448 30,76 Nguồn: lắng cục Thốngki Hình 1.
2: FDI theo ngành kinh tế vào Việt Nam giai đoạn 1998-2016 (Tổng cục thống kê, 2017) Song song với việc thu hút vốn FDI là sự tham gia của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam cũng gia tăng đáng kể, hầu hết nhà thầu nước ngoài tham gia vào các dự án lớn như: Dự án Đại lộ Đông Tây (liên danh nhà thầu Nhật), Nhà máy lọc dầu Dung Quat (Nhà thầu Pháp), Cau Mỹ Thuận (liên danh nhà thầu Úc và Việt Nam), Cầu Can Thơ (Nhà thầu Nhật), Tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên (Nhà thầu Nhật, Hàn Quốc), Chung cư Season Avenue — Ha Nội (Nhà thâu Trung Quốc), dự án Thành Phó Mặt nước- Hải Phòng (Nhà thầu Nhật). Theo báo cáo mới nhất từ Cục đầu tư năm 2017 (Ngọc, 2018), tong vốn FDI vào Việt Nam đạt 35,88 ty USD, tăng 44.4% so với cùng kỳ năm 2016, mức cao nhất kế từ năm 2009. Tính đến 20/12/2017, cả nước có 2.591 dự án FDI mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 21. Nhật Bản @ Hàn Quốc #9 Singapore m Các nước khác Hình 1.3: FDI vào Việt Nam năm 2017 theo đối tác đầu tư (Ngọc, 2018) Cụ thé trong năm 2017 có 115 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đâu tư tại Việt Nam, Trong đó, Nhật Bản dẫn đầu với tong vốn dau tư là 9,11 tỷ USD, chiếm 25 4% tong vốn FDI.
Hàn Quốc ở vi trí thứ 2 với tong vốn đầu tư đăng ký là 8,49 ty USD chiến HVTH: Tran Ngọc Anh — MSHV: 7140091 Trang 9 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Nguyễn Anh Thư 23/7% vốn FDI. Trong các thành phố tỉnh thành thu hút vốn FDI thi Thành phố Hồ CHi Minh thu hút nhiều nhất với tong vốn đăng ký là 6,5 tỷ USD chiếm 18,1 % tong vốn FDI. Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn tiếp tục là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài, với tong số vốn là 15,87 tỷ USD, chiém 44,2% tong vốn dau tư đăng ky trong 12/2017. Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tong vốn dau tư là 8,37 ty USD, chiếm 23,3% tong vốn dau tư đăng ký.
Đứng thứ 3 là lĩnh vực kinh doanh bat động sản với tong vốn đầu tư đăng ký là 3,05 tỷ USD, chiếm 8,5% tổng vốn dau tư đăng ký. Một số dự án có vốn FDI tham gia như: dự án Khu phúc hợp thông minh tại khu chức năng số 2A khu đo thi mới Thủ Thiém- Quận 2 TPHCM (nhà dau tư Hàn Quốc), dự án diện BOT — Nha máy nhiệt điện BOT Nghĩ Son 2 (nhà đầu tư Nhật Bản), Nhà máy nhiệt điện Vân Phong 1 (Nha đầu tư Nhật), Nhà máy nhiệt điện BOT Nam Định 1 (nha đầu tư Singapore). Nguyên nhân của việc vốn FDI tại Việt Nam có sự tăng trưởng chậm từ năm 2008 (thậm chí giảm) do khủng hoảng tài chính 2006, lạm phát. Khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng phát do bong bóng nhà ở và việc giám sát tài chính chưa hoàn thiện ở Mỹ dẫn tới suy thoái kinh tế không những ở Mỹ mà còn lan rộng ra các nước châu Âu và châu Á trong đó Việt Nam.
Tháng 4/2008 - một tháng sau khi có chính sách thắt chặt tiền tệ - đã chứng kiến một làn sóng tháo chạy khỏi bất động sản. Đến cuối năm 2008 giá nhà đất trên thị trường giảm 50% so với đầu năm, thậm chí có một số dự án giá bán giảm đến 70% khu vực Phước Long A, Phước Long B, Phường Phú Hữu, quận 9; Phước Kiếng- Nhà Bè từ giá đỉnh điểm 30 triệu đồng/ m2 thì thời điểm cuối năm chỉ còn 8-12 triệu déng/m2. Giai đoạn 2011-2013, Nghị quyết số 02/NQ-CP về những giải pháp kiềm chế lạm phát, 6n định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội đã ảnh hưởng đến hệ thống tài chính Việt Nam và gián tiếp gây khó khăn cho doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Chính vì điều này một lượng lớn hàng tôn kho của bất động sản đạt ở mức kỷ lục: hơn 28.500 căn hộ tại TP.HCM và Hà Nội đã chào bán trên thị trường nhưng chưa có chủ sở hữu và phải mat 4-5 năm nữa mới có thể vượt qua tinh trạng thừa cung (theo Báo cáo quý IV/2012 của Công ty CB Richard Ellis (CBRE) Việt Nam.
Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Xây dựng, hàng tồn kho cả nước hiện nay có khoảng hơn 16.000 nhà thấp tầng và gần 26.000 m2 nhà văn phòng cho thuê (Tom, 2013). Thực tế cho thay những yếu tố như khủng hoảng nên kinh tế, lam phát, thắc chặt tín dụng, sự khác biệt về môi trường chính sách, môi trường làm việc. đã giáng một đòn mạnh vào nên kinh tế Việt Nam đặc biệt là lĩnh vực bất động sản, xây dựng, công nghiệp điều nảy không những ảnh hưởng lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài nói chung, và nhà thâu nước ngoài nói riêng mà còn ảnh hưởng đền nguôn thu ngân sách, sự phát triên kinh HVTH: Tran Ngọc Anh — MSHV: 7140091 Trang 10 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Nguyễn Anh Thư tế, chỉ số cạnh tranh với các nước trong khu vực do việc thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam bị giảm sút. Nguồn vốn FDI luôn tý lệ thuận với sự tham gia của nhà thầu nước ngoài vì nhiều lý do: * Nhà đầu tư nước ngoài hau như tin tưởng vào các nhà thầu có tiếng tăm hoặc đã từng hợp tác trước đó lý do là nhà thầu nước ngoài có nhiều kinh nghiệm, đội ngủ quản lý giỏi, áp dụng công nghệ thi công tiên tiễn đảm bảo ít rủi ro cho công trình.
v Điều khoản quốc tế ràng buộc phải chon nhà thầu nước ngoài của nhà đầu tư vào Việt Nam (như vốn vay ODA). Y Chính sách của nước ngoài khuyến khích các công ty ra nước ngoai dé đầu tư, để làm việc vì sự cạnh tranh, và nguồn việc trong nước không nhiều. Nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam ngoài một số lợi như trên cũng đối mặt với các khó khăn như: khác biệt về văn hóa, chưa hiểu rõ điều kiện địa lý, thời tiết, cách thức làm việc của Chủ đầu tư, chưa hiểu cách làm việc nhà thầu phụ, nhà cung cấp, nhân lực, va các yếu tố năm ngoài tầm kiểm soát như sự 6n định chính tri, ty giá, lam phat .Chính những yếu tố này là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh chi phí xây dựng không mong muốn cho nhà thầu, tiễn độ ban giao dự án chậm trễ, chất lượng chưa được đảm bảo. Đây chính là hạn chế cũng như rào cản cho các nhà thầu nước ngoài khi thực hiện dự án tại Việt Nam vì quản lý chi phí xây dựng công trình là van dé cốt lõi quyết định sự tôn tại của mỗi doanh nghiệp.
Vì vậy để hoạch định đường lỗi, kế hoạch, nhiệm vụ đúng dan theo định hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp, đem lại sự thành công cho mỗi công trình thì việc tìm hiểu nguyên nhân, phân tích, đánh giá các yếu tô ảnh hưởng đến vượt chi phí xây dựng là việc làm cần thiết, và thường xuyên của công tác quản lý dự án để đảm bảo ngân sách đề ra của nhà thâu nước ngoài. Xác định vẫn đề nghiên cứu Nghiên cứu của Davies (2007) phát hiện ra rang cùng với quản lý tiến độ, quản lý chất lượng thì quản lý chi phí là một trong nhân tổ quan trong dé đo lường sự thành công của dự án (trích dẫn bởi Sơn, 2016). Trong đó, tiêu chí dé đo lường sự thành công của nhà thầu trong một dự án xây dựng là: đáp ứng tiễn độ, lợi nhuận, trong giới hạn chi phí, đáp ứng chất lượng kỹ thuật, không có khiếu nại, an toàn, sự hài lòng củ khách hàng, giao tiếp tốt. Đã có nhiều nghiên cứu trước đó trong nước về van dé chi phí của nhà thâu như: - — Các nhân tô ảnh hường đến sự biến động chi phí của cá dự án xây dựng tại TP.
Hồ Chí Minh (Tâm, 2008). - Quản lý rủi ro cho nhà thầu xây dựng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (Cao, 2006). HVTH: Tran Ngọc Anh — MSHV: 7140091 Trang 11 Luận văn thạc sĩ GVHD: T.S Nguyễn Anh Thư - Phan tích mối quan hệ giữa các nhân tố rủi ro ảnh hưởng đến nguy cơ vượt chi phí tại các dự án xây dựng nhà cao tầng (Bình, 2015). Tuy nhiên, chưa có nhiều dé tài nghiên cứu về van dé vượt chi phí xây dựng của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn thi công.