Luận án kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu đường tại các tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc bộ giao thông vận tải

Tài liệu nghiên cứu Luận án kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu đường tại các tổng công ty xây dựng công trình giao, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

241
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu kế toán quản trị chi phí xây lắp

1.2.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1.1. Các nghiên cứu về kế toán quản trị
1.2.1.2. Các nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp nói chung
1.2.1.3. Các nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp

1.2.2. Khoảng trống nghiên cứu

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Các câu hỏi nghiên cứu của luận án

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu của luận án

1.6.1. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp tiếp cận

1.6.2. Phương pháp nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông (CSHT-GT) là một trong những giải pháp chiến lược quan trọng nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Trong giai đoạn 2010-2015, CSHT-GT tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, với tốc độ tăng trưởng vận tải bình quân trên 10% mỗi năm. Các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông (TCTXDCTGT) đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng hàng nghìn km đường và hàng trăm cây cầu, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc cổ phần hóa các TCTXDCTGT từ năm 2013 đã đặt ra nhiều thách thức, yêu cầu các doanh nghiệp này phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc cải thiện công tác kế toán quản trị, đặc biệt là kế toán quản trị chi phí xây lắp (KTQTCPXL). Nhiệm vụ chính của KTQTCPXL là thu thập, xử lý thông tin về chi phí xây lắp, kiểm tra và giám sát các định mức chi phí, lập dự toán chi phí, từ đó cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định của nhà quản trị.

1.1. Vai trò của kế toán quản trị chi phí xây lắp

KTQTCPXL không chỉ giúp các TCTXDCTGT kiểm soát chi phí mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch và ra quyết định. Việc áp dụng các phương pháp tổ chức thi công tiên tiến giúp kiểm soát tốt các yếu tố chi phí xây lắp, từ đó hạ giá thành sản phẩm. Các công trình giao thông lớn, phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài đòi hỏi một hệ thống kế toán quản trị hiệu quả để đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong việc cung cấp thông tin. Điều này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nơi mà sự cạnh tranh ngày càng gay gắt.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu kế toán quản trị chi phí xây lắp

Nghiên cứu về kế toán quản trị (KTQT) đã được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ 19, với nhiều công trình tiêu biểu như của Kaplan và Alkinson. Các nghiên cứu này đã chỉ ra vai trò và nội dung cơ bản của KTQT, bao gồm phân loại chi phí, phương pháp xác định chi phí theo hoạt động (ABC) và các trung tâm trách nhiệm. Tại Việt Nam, nghiên cứu về KTQT bắt đầu từ những năm 1990, với nhiều tác giả đã chỉ ra sự khác biệt giữa KTQT và kế toán tài chính. Giai đoạn từ năm 2005 trở lại đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về KTQT trong các doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng. Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn thiếu sót trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, đặc biệt là trong các TCTXDCTGT.

2.1. Các nghiên cứu trong và ngoài nước

Các nghiên cứu về KTQTCPXL trong các doanh nghiệp xây dựng đã được thực hiện bởi nhiều tác giả trong và ngoài nước. Jouni Keisala đã nghiên cứu về các phương pháp kế toán chi phí cho các dự án xây dựng tại Nga, chỉ ra rằng phương pháp ABC mang lại hiệu quả cao hơn trong việc phân bổ chi phí. Tại Việt Nam, Nguyễn La Soa đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQTCP cho các TCTXDCTGT, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và phân loại chi phí. Những nghiên cứu này đã góp phần làm rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp cải thiện KTQTCPXL, tuy nhiên vẫn còn nhiều khoảng trống cần được nghiên cứu thêm.

III. Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về KTQT và KTQTCP trong các doanh nghiệp, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, đặc biệt là trong các TCTXDCTGT. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào lý thuyết mà chưa gắn kết với thực tế tổ chức và đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp. Việc xây dựng định mức chi phí và áp dụng các phương pháp xác định chi phí hiện đại vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ. Do đó, cần có những nghiên cứu sâu hơn về KTQTCPXL để đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong việc ra quyết định.

3.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc làm rõ những vấn đề lý luận về KTQTCPXL, phân tích thực trạng công tác KTQTCPXL tại các TCTXDCTGT, và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQTCPXL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Cần có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn để đảm bảo rằng các giải pháp đề xuất có thể được áp dụng hiệu quả trong các doanh nghiệp xây dựng, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán quản trị chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu, đƣờng tại các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu, đƣờng tại các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải. 17 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.

Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp ảnh hƣởng đến kế toán quản trị chi phí Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt, có chức năng tái sản xuất mở rộng tài sản cho nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển XDCB đƣợc phân chia thành các chuyên ngành bao gồm xây dựng các công trình dân dụng, công trình giao thông,. Trong đó, XDGT có chức năng: Xây dựng mới những chiếc cầu, tuyến đƣờng ô tô mà trƣớc đến nay chƣa có trên mạng lƣới giao thông quốc gia; Trang bị lại kỹ thuật cho các công trình giao thông hiện hành là việc thực hiện một tổ hợp các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm đƣa trình độ kỹ thuật của công trình hiện có lên ngang tầm với đòi hỏi mới; Mở rộng, phục hồi,sửa chữa các công trình giao thông để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách ngày càng tăng của nền kinh tế quốc gia. Nhƣ vậy, trong quá trình thực hiện chức năng của mình xây dựng công trình giao thông đã góp phần tạo nên những sản phẩm mới cho nền kinh tế quốc dân.

Sản phẩm của XDGT là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. XDGT đƣợc thực hiện bởi các DNXL, các DN tạo nên những sản phẩm vật chất cụ thể đƣợc kết tinh bởi 3 yếu tố cần trong quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất thi công cũng trải qua ba giai đoạn nhƣ trong ngành sản xuất công nghiệp. Nhƣ vậy, XDGT là một chuyên ngành của XDCB nên nó mang đầy đủ những tính chất của ngành XDCB.

Đặc điểm hoạt động SXKD của các DNXL ảnh hƣởng đến công tác KTQTCPXL nhƣ sau: 18 Thứ nhất, đặc điểm SPXL ảnh hưởng đến KTQTCPXL + SPXL có tính chất đơn chiếc đƣợc sản xuất ra tại nơi tiêu thụ nó, chịu ảnh hƣởng bởi điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội của nơi tiêu thụ. CPXL khác biệt theo từng công trình, hạng mục công trình (CT/HMCT). Khác với sản phẩm công nghiệp, sản phẩm XDGT sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, địa điểm, điều kiện sản xuất và CP cũng khác nhau. Khả năng trùng lặp về kỹ thuật, công nghệ, CPXL, môi trƣờng.

Sản phẩm XDGT đƣợc sử dụng tại chỗ, do đó công tác TCTC luôn thay đổi theo địa bàn thi công. Vì vậy, DN phải nghiên cứu các điều kiện kinh tế, địa chất và thủy văn gắn liền với các yếu tố phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội cũng nhƣ phong tục tập quán địa phƣơng để lựa chọn phƣơng pháp TCTC phù hợp. Đồng thời, phải nhận diện các loại CPXL, ĐMCP, đối tƣợng chịu CP đúng đắn để từ đó lựa chọn phƣơng pháp xác định CP phù hợp. Bên cạnh đó, sản phẩm XDGT đƣợc tổ chức xây dựng ở nhiều địa điểm khác nhau nên DNXL cần phải lập kế hoạch kiểm soát chặt chẽ về CP cũng nhƣ chất lƣợng của từng công trình.

+ SPXL có giá trị, khối lƣợng lớn, thời gian thi công tƣơng đối dài, trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao và có thời gian sử dụng dài. Các công trình XDCB thƣờng có giá trị và khối lƣợng công việc lớn, thời gian thi công kéo dài thậm chí hàng năm mới hoàn thành. Khi nhận thi công những công trình này, các DNXL phải cần cân nhắc kỹ vốn, máy móc, thiết bị và lao động, phải quản lý chặt chẽ quy trình TCTC ở từng giai đoạn đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lƣợng công trình. Do thời gian thi công dài nên kỳ tính giá thành thƣờng đƣợc xác định khi CT/HMCT hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ƣớc.

Do đó, KTQTCPXL phải xác định chính xác đối tƣợng tính giá thành sẽ giúp cho việc KSCP và sử dụng vốn có hiệu quả. 19 Theo quy định, các nhà thầu thi công phải chịu trách nhiệm bảo hành công trình, thời gian bảo hành công trình đƣợc xác định theo loại và cấp công trình. Trong khi đó các sản phẩm XDGT thƣờng chịu tác động của các phƣơng tiện vận tải, điều kiện thiên nhiên, thời tiết.nên ảnh hƣởng đến CP bảo hành SPXL. Do đó, trong quá trình TCTC, DNXL cần phải thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát chất lƣợng công trình để tiết kiệm CP sửa chữa và bảo hành CT/HMCT.

+ Quá trình TCTC thƣờng diễn ra ngoài trời chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trƣờng, thiên nhiên, thời tiết nên TCTC cũng thƣờng mang tính chất thời vụ. DNXL cần tổ chức quản lý lao động, vật tƣ, máy móc thiết bị chặt chẽ để đảm bảo xây dựng kịp thời khi điều kiện thời tiết thuận lợi để tiết kiệm CP. Vì vậy, KTQTCPXL phải lựa chọn phƣơng pháp xác định CP phù hợp để KSCP tốt nhằm đạt đƣợc mục tiêu lợi nhuận. Thứ hai, đặc điểm phương thức hoạt động sản xuất xây lắp Hoạt động sản xuất của DNXL đƣợc thực hiện khi có đơn đặt hàng của ngƣời sản phẩm.

Tức là sản xuất xây dựng chỉ tiến hành khi chủ đầu tƣ đã phê duyệt và ký “Hợp đồng xây dựng”. SPXL hoàn thành đã xác định đƣợc ngƣời mua và quá trình thi công xây dựng luôn có sự giám sát kỹ thuật của ngƣời mua. Do SPXL gắn liền với nơi tiêu thụ nên địa điểm sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn, thời gian thi công trình kéo dài, sản xuất tiến hành ngoài trời, kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém nên DNXL phải lựa chọn phƣơng pháp TCTC hợp lý cho từng công trình để tránh lãnh phí về lao động, vật tƣ và máy móc. Với đặc điểm này cho thấy các DNXL đã dự kiến đƣợc lợi nhuận của từng SPXL.

Do đó, KTQTCPXL phải lựa chọn phƣơng pháp xác định CPXL phù hợp giúp KSCP để hạ giá thành thực tế nhằm đạt đƣợc lợi nhuận mong muốn. Thứ ba, đặc điểm về phương thức quản lý hoạt động sản xuất Cơ chế khoán đang đƣợc áp dụng phổ biến trong các DNXL hiện nay, phƣơng thức này đã phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị nhận khoán. DNXL thƣờng áp dụng các hình thức khoán nhƣ sau: 20 + Khoán gọn công trình: DN sẽ giao khoán toàn bộ CPXL của CT/HMCT cho đơn vị nhận khoán và chỉ giữ lại một phần CP quản lý, phần nộp cho Nhà nƣớc. + Khoán theo khoản mục chi phí (KMCP): DN sẽ khoán từng KMCP cho đơn vị nhận khoán nhƣ chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung.

Trong trƣờng hợp này, đơn vị nhận khoán chỉ chịu trách nhiệm về các KMCP đã nhận khoán. Cơ sở để xác định giá khoán là dựa vào hệ thống ĐMCP. Nhƣ vậy, ngoài hệ thống ĐMCP do Nhà nƣớc ban hành, các DNXL nên xây dựng hệ thống ĐMCP nội bộ để làm căn cứ tính giá giao khoán. Áp dụng cơ chế khoán sẽ làm cho các đơn vị nhận khoán phải quan tâm và KSCP chặt chẽ hơn để đạt đƣợc lợi nhuận mong muốn.

Mỗi CT/HMCT có kết cấu kỹ thuật, giá bán, điều kiện TCTC riêng nên việc quyết định lựa chọn SXKD theo hình thức nào hiệu quả nhất là một vấn đề đƣợc các nhà quản trị hết sức quan tâm. Đặc điểm này đòi hỏi KTQTCPXL cần phải tiến hành tổ chức phân tích các thông tin CPXL thích hợp giúp nhà quản trị lựa chọn phƣơng án tối ƣu nhất. Chi phí xây lắp và yêu cầu quản lý chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của chi phí xây lắp Để thực hiện hoạt động sản xuất, DNXL phải bỏ ra các CP (nguồn lực) đó là lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động.

Các CP này cấu thành nên SPXL để bán nhằm bù đắp các CPXL đã chi ra để tiếp tục tái sản xuất. Có nhiều định nghĩa, quan điểm về CP ở các phạm vi và góc độ khác nhau. Theo quan điểm chung nhất thì CP đƣợc hiểu: “Mọi sự tiêu phí tính bằng tiền của một xí nghiệp gọi là chi phí”[10]. Theo Hanson & Moowen định nghĩa: “Chi phí là sự hao phí liên quan đến việc tạo ra sản phẩm”[49].

Còn theo Whoehe, G cho rằng: “Chi phí là sự hao phí giá trị các nguồn lực để 21 tạo ra sản phẩm tiêu thụ giúp duy trì năng lực cần thiết cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó”[65]. Nhƣ vậy, CP gắn với hoạt động SXKD của DNXL trong một khoảng thời gian nhất định. Để hiểu rõ hơn bản chất của CP cần phân biệt chi tiêu với CP. Chi tiêu là sự giảm đi các nguồn lực trong DNXL còn CP là hao phí các nguồn lực và đƣợc bù đắp từ thu nhập của một kỳ kinh doanh nhất định gắn liền với hoạt động SXKD.

Giữa chi tiêu và CP có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chi tiêu là cơ sở cho CP, không có chi tiêu thì không có CP. Theo quan điểm của KTTC thì: “Chi phí là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định”[6]. Nhƣ vậy, các khoản CP thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất phải dựa trên bằng chứng tài liệu đáng tin cậy. Theo quan điểm KTQT, chi phí là những khoản phí tổn thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD hoặc có thể coi là những khoản phí tổn ƣớc tính hoặc dự kiến trƣớc của một hoạt động SXKD.

Từ sự phân tích trên, ta rút ra bản chất của CP là: - Sự hao tổn về các nguồn lực gắn liền với hoạt động SXKD của DNXL và đƣợc đo lƣờng bằng thƣớc đo giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. - CP luôn có tính cá biệt bao gồm cả những khoản CP mà DNXL phải chi ra để tồn tại và phục vụ cho hoạt động SXKD do đó CP phải gắn liền với mục đích sử dụng CP.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu đường tại các tổng công ty xây dựng công trình giao thông" tập trung vào việc phân tích và quản lý chi phí trong lĩnh vực xây dựng cầu đường, một vấn đề quan trọng đối với các tổng công ty xây dựng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp kế toán quản trị mà còn giúp các nhà quản lý tối ưu hóa chi phí, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc áp dụng các phương pháp này vào thực tiễn, giúp cải thiện quy trình quản lý tài chính trong các dự án xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu ứng dụng neo đất cho thi công hầm nhà cao tầng tại Hạ Long, nơi cũng đề cập đến các phương pháp kỹ thuật trong xây dựng, hay Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo bê tông nhẹ cường độ cao sử dụng hạt vi cầu rỗng từ tro bay, một nghiên cứu liên quan đến vật liệu xây dựng, và Luận án Tiến sĩ: Nghiên cứu về tải trọng giới hạn của nền đập xà lan ở Đồng bằng sông Cửu Long, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thiết kế và thi công công trình. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích cho bạn trong lĩnh vực xây dựng và quản lý chi phí.