phần mở đầu, kết luận, luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán quản trị chi phí xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu, đƣờng tại các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Chƣơng 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp cầu, đƣờng tại các Tổng công ty xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải. 17 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ XÂY LẮP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp ảnh hƣởng đến kế toán quản trị chi phí Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt, có chức năng tái sản xuất mở rộng tài sản cho nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình phát triển XDCB đƣợc phân chia thành các chuyên ngành bao gồm xây dựng các công trình dân dụng, công trình giao thông,. Trong đó, XDGT có chức năng: Xây dựng mới những chiếc cầu, tuyến đƣờng ô tô mà trƣớc đến nay chƣa có trên mạng lƣới giao thông quốc gia; Trang bị lại kỹ thuật cho các công trình giao thông hiện hành là việc thực hiện một tổ hợp các biện pháp kỹ thuật phù hợp nhằm đƣa trình độ kỹ thuật của công trình hiện có lên ngang tầm với đòi hỏi mới; Mở rộng, phục hồi,sửa chữa các công trình giao thông để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách ngày càng tăng của nền kinh tế quốc gia. Nhƣ vậy, trong quá trình thực hiện chức năng của mình xây dựng công trình giao thông đã góp phần tạo nên những sản phẩm mới cho nền kinh tế quốc dân.
Sản phẩm của XDGT là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân. XDGT đƣợc thực hiện bởi các DNXL, các DN tạo nên những sản phẩm vật chất cụ thể đƣợc kết tinh bởi 3 yếu tố cần trong quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất thi công cũng trải qua ba giai đoạn nhƣ trong ngành sản xuất công nghiệp. Nhƣ vậy, XDGT là một chuyên ngành của XDCB nên nó mang đầy đủ những tính chất của ngành XDCB.
Đặc điểm hoạt động SXKD của các DNXL ảnh hƣởng đến công tác KTQTCPXL nhƣ sau: 18 Thứ nhất, đặc điểm SPXL ảnh hưởng đến KTQTCPXL + SPXL có tính chất đơn chiếc đƣợc sản xuất ra tại nơi tiêu thụ nó, chịu ảnh hƣởng bởi điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội của nơi tiêu thụ. CPXL khác biệt theo từng công trình, hạng mục công trình (CT/HMCT). Khác với sản phẩm công nghiệp, sản phẩm XDGT sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, địa điểm, điều kiện sản xuất và CP cũng khác nhau. Khả năng trùng lặp về kỹ thuật, công nghệ, CPXL, môi trƣờng.
Sản phẩm XDGT đƣợc sử dụng tại chỗ, do đó công tác TCTC luôn thay đổi theo địa bàn thi công. Vì vậy, DN phải nghiên cứu các điều kiện kinh tế, địa chất và thủy văn gắn liền với các yếu tố phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội cũng nhƣ phong tục tập quán địa phƣơng để lựa chọn phƣơng pháp TCTC phù hợp. Đồng thời, phải nhận diện các loại CPXL, ĐMCP, đối tƣợng chịu CP đúng đắn để từ đó lựa chọn phƣơng pháp xác định CP phù hợp. Bên cạnh đó, sản phẩm XDGT đƣợc tổ chức xây dựng ở nhiều địa điểm khác nhau nên DNXL cần phải lập kế hoạch kiểm soát chặt chẽ về CP cũng nhƣ chất lƣợng của từng công trình.
+ SPXL có giá trị, khối lƣợng lớn, thời gian thi công tƣơng đối dài, trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao và có thời gian sử dụng dài. Các công trình XDCB thƣờng có giá trị và khối lƣợng công việc lớn, thời gian thi công kéo dài thậm chí hàng năm mới hoàn thành. Khi nhận thi công những công trình này, các DNXL phải cần cân nhắc kỹ vốn, máy móc, thiết bị và lao động, phải quản lý chặt chẽ quy trình TCTC ở từng giai đoạn đảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, đảm bảo chất lƣợng công trình. Do thời gian thi công dài nên kỳ tính giá thành thƣờng đƣợc xác định khi CT/HMCT hoàn thành hay thực hiện bàn giao thanh toán theo giai đoạn quy ƣớc.
Do đó, KTQTCPXL phải xác định chính xác đối tƣợng tính giá thành sẽ giúp cho việc KSCP và sử dụng vốn có hiệu quả. 19 Theo quy định, các nhà thầu thi công phải chịu trách nhiệm bảo hành công trình, thời gian bảo hành công trình đƣợc xác định theo loại và cấp công trình. Trong khi đó các sản phẩm XDGT thƣờng chịu tác động của các phƣơng tiện vận tải, điều kiện thiên nhiên, thời tiết.nên ảnh hƣởng đến CP bảo hành SPXL. Do đó, trong quá trình TCTC, DNXL cần phải thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát chất lƣợng công trình để tiết kiệm CP sửa chữa và bảo hành CT/HMCT.
+ Quá trình TCTC thƣờng diễn ra ngoài trời chịu tác động trực tiếp bởi điều kiện môi trƣờng, thiên nhiên, thời tiết nên TCTC cũng thƣờng mang tính chất thời vụ. DNXL cần tổ chức quản lý lao động, vật tƣ, máy móc thiết bị chặt chẽ để đảm bảo xây dựng kịp thời khi điều kiện thời tiết thuận lợi để tiết kiệm CP. Vì vậy, KTQTCPXL phải lựa chọn phƣơng pháp xác định CP phù hợp để KSCP tốt nhằm đạt đƣợc mục tiêu lợi nhuận. Thứ hai, đặc điểm phương thức hoạt động sản xuất xây lắp Hoạt động sản xuất của DNXL đƣợc thực hiện khi có đơn đặt hàng của ngƣời sản phẩm.
Tức là sản xuất xây dựng chỉ tiến hành khi chủ đầu tƣ đã phê duyệt và ký “Hợp đồng xây dựng”. SPXL hoàn thành đã xác định đƣợc ngƣời mua và quá trình thi công xây dựng luôn có sự giám sát kỹ thuật của ngƣời mua. Do SPXL gắn liền với nơi tiêu thụ nên địa điểm sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn, thời gian thi công trình kéo dài, sản xuất tiến hành ngoài trời, kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém nên DNXL phải lựa chọn phƣơng pháp TCTC hợp lý cho từng công trình để tránh lãnh phí về lao động, vật tƣ và máy móc. Với đặc điểm này cho thấy các DNXL đã dự kiến đƣợc lợi nhuận của từng SPXL.
Do đó, KTQTCPXL phải lựa chọn phƣơng pháp xác định CPXL phù hợp giúp KSCP để hạ giá thành thực tế nhằm đạt đƣợc lợi nhuận mong muốn. Thứ ba, đặc điểm về phương thức quản lý hoạt động sản xuất Cơ chế khoán đang đƣợc áp dụng phổ biến trong các DNXL hiện nay, phƣơng thức này đã phân định rõ trách nhiệm của từng đơn vị nhận khoán. DNXL thƣờng áp dụng các hình thức khoán nhƣ sau: 20 + Khoán gọn công trình: DN sẽ giao khoán toàn bộ CPXL của CT/HMCT cho đơn vị nhận khoán và chỉ giữ lại một phần CP quản lý, phần nộp cho Nhà nƣớc. + Khoán theo khoản mục chi phí (KMCP): DN sẽ khoán từng KMCP cho đơn vị nhận khoán nhƣ chi phí nhân công, chi phí sản xuất chung.
Trong trƣờng hợp này, đơn vị nhận khoán chỉ chịu trách nhiệm về các KMCP đã nhận khoán. Cơ sở để xác định giá khoán là dựa vào hệ thống ĐMCP. Nhƣ vậy, ngoài hệ thống ĐMCP do Nhà nƣớc ban hành, các DNXL nên xây dựng hệ thống ĐMCP nội bộ để làm căn cứ tính giá giao khoán. Áp dụng cơ chế khoán sẽ làm cho các đơn vị nhận khoán phải quan tâm và KSCP chặt chẽ hơn để đạt đƣợc lợi nhuận mong muốn.
Mỗi CT/HMCT có kết cấu kỹ thuật, giá bán, điều kiện TCTC riêng nên việc quyết định lựa chọn SXKD theo hình thức nào hiệu quả nhất là một vấn đề đƣợc các nhà quản trị hết sức quan tâm. Đặc điểm này đòi hỏi KTQTCPXL cần phải tiến hành tổ chức phân tích các thông tin CPXL thích hợp giúp nhà quản trị lựa chọn phƣơng án tối ƣu nhất. Chi phí xây lắp và yêu cầu quản lý chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của chi phí xây lắp Để thực hiện hoạt động sản xuất, DNXL phải bỏ ra các CP (nguồn lực) đó là lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động.
Các CP này cấu thành nên SPXL để bán nhằm bù đắp các CPXL đã chi ra để tiếp tục tái sản xuất. Có nhiều định nghĩa, quan điểm về CP ở các phạm vi và góc độ khác nhau. Theo quan điểm chung nhất thì CP đƣợc hiểu: “Mọi sự tiêu phí tính bằng tiền của một xí nghiệp gọi là chi phí”[10]. Theo Hanson & Moowen định nghĩa: “Chi phí là sự hao phí liên quan đến việc tạo ra sản phẩm”[49].
Còn theo Whoehe, G cho rằng: “Chi phí là sự hao phí giá trị các nguồn lực để 21 tạo ra sản phẩm tiêu thụ giúp duy trì năng lực cần thiết cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đó”[65]. Nhƣ vậy, CP gắn với hoạt động SXKD của DNXL trong một khoảng thời gian nhất định. Để hiểu rõ hơn bản chất của CP cần phân biệt chi tiêu với CP. Chi tiêu là sự giảm đi các nguồn lực trong DNXL còn CP là hao phí các nguồn lực và đƣợc bù đắp từ thu nhập của một kỳ kinh doanh nhất định gắn liền với hoạt động SXKD.
Giữa chi tiêu và CP có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chi tiêu là cơ sở cho CP, không có chi tiêu thì không có CP. Theo quan điểm của KTTC thì: “Chi phí là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định”[6]. Nhƣ vậy, các khoản CP thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất phải dựa trên bằng chứng tài liệu đáng tin cậy. Theo quan điểm KTQT, chi phí là những khoản phí tổn thực tế phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD hoặc có thể coi là những khoản phí tổn ƣớc tính hoặc dự kiến trƣớc của một hoạt động SXKD.
Từ sự phân tích trên, ta rút ra bản chất của CP là: - Sự hao tổn về các nguồn lực gắn liền với hoạt động SXKD của DNXL và đƣợc đo lƣờng bằng thƣớc đo giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. - CP luôn có tính cá biệt bao gồm cả những khoản CP mà DNXL phải chi ra để tồn tại và phục vụ cho hoạt động SXKD do đó CP phải gắn liền với mục đích sử dụng CP.